Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

Chân trời định mệnh 2

                                              Chương 5
                                        Vệ Quốc quân
                               Hang Thần và bí mật còn đó
Hà nội, mùa Đông 1986. Mấy hôm nay gió mùa Đông Bắc tràn về làm cho đường phố tràn ngập màu sắc sặc sỡ  các kiểu aó chống rét của các cô gái Hà thành, phổ biến nhất là aó khoác đệm mút chần chỉ hình quả trám. Còn các chàng trai công tử ăn chơi thì khoác aó cổ lông cuả Đông Đức màu ghi sáng, cưỡi xe Hon đa, xe máy Peugieurt sành điệu như những con công đực giữa dòng xe đạp lam lũ, tất bật, tay lái lũng lẵng cặp lồng dựng cơm ăn trưa, của cán bộ công nhân sau giờ tan tầm.
   Trên chiếc xe Bus hiệu „Ba đình“ chật ních người, Huy Đông đang cố tìm cách né tránh, chống đỡ những cú dồn nén của đám đông xô đẩy, lắc lư theo nhịp rung của xe. Trời rét ngọt, nhưng trong xe hơi người nóng hầm hập làm Đông toát mồ hôi đẫm lưng aó. Anh phải ra gấp ga Hàng cỏ để kịp đi chuyến tàu chiều về Huế, bức điện khẩn của cô em gái báo tin Ba mất nhận được lúc ban trưa làm anh bàng hoàng không còn tỉnh táo để thu xếp bất cứ hành lí nào mang theo, may mắn leo lên đưọc chuyến xe bus này anh đứng như người mộng du.
Lẽ ra, Huy Đông đã về lại Huế tiếp tục công việc giảng dạy  sau khi bảo vệ luận văn tốt nghiệp Cao học. Nhưng để tiết kiệm thời gian và cũng phù hợp với khả năng của mình, anh xin thi tiếp vào  chương trình làm Nghiên cứu sinh  Phó Tiến sĩ trong nước, một lối đi đầy gian khổ tốn kém cho những người không có thần thế, nhưng lại rất ham học như anh. Thời kì này, anh phải gấp rút hoàn thành các chứng chỉ Minimum, nên học hành với cường độ cao, ăn ở phảỉ tự lo, không có người giúp đỡ, Huy Đông gầy hẳn đi. Hôm nay nhận được tin dữ, không kịp nấu ăn gì, đến lúc này anh mới thấy mệt lã cả người. Huy Đông chỉ còn một tâm niệm, gì thì gì cứ phải về gặp mặt ba anh lần cuối, mới đỡ phần ân hận  vì anh không ở bên cạnh ông lúc ốm đau vừa rồi.
Ông Tự nằm như đang ngủ trong chiếc quan tài gỗ màu đỏ, nét mặt đau đớn vì cái chết đột ngột không cho ông kịp trối trăng điều gì cho vợ con. Cơn đột quị như một cú hẫng chân xuống hố hư vô không cho ông khả năng kháng cự lại số mệnh. Hai ngày là giới hạn cho phép ông nằm đấy chờ những đứa con xa nhà về vĩnh biệt cha trong đau khổ, lặng thinh.
Trong bí mật của hai cha con, Huy Đông dự định sẽ về hỏi cha nhiều điều cần biết. Nhưng bây giờ thì muộn mất rồi, Cha của anh đã vĩnh viễn ra đi mang theo tất cả bí mật của ông.
-         Ba ơi ! con là một đứa con bất hiếu.
Huy Đông đau đớn kêu lên bên mẹ và em gái đang lăn lộn trên nền nhà. Góa bụa và mồ côi là hai khái niệm bi thương bỗng dưng nhảy bổ vào gia đình anh  mà ngự trị hả hê kẻ từ lúc này đây.
Giã từ cha nằm lại trên đồi thông Ngự bình, nơi mà họ đã biết đến từ thửa ấu thơ ở miền Bắc qua hai câu thơ cha thường ngâm nga lúc nỗi buồn li hương xâm chiếm hết tâm hồn ông:
                 „ Núi Ngự bình trước tròn sau méo
                    Sông An cựu nắng đục, mưa trong.“
Anh em Đông lặng lẽ dìu mẹ và em gái trở về ngôi nhà còn nghi ngút khói hương, tang tóc. Trên bàn thờ, ông Tự nhìn xuống lặng lẽ từ một bức truyền thần. Sinh thời ông Tự không để lại một bức ảnh chụp riêng nào, không hiểu vì sao, có lẽ là do liên tục di chuyển nên phần lớn các kỉ vật cuả ông bị thất lạc mất, khi ông qua đời  thì mọi người mới phát hiện được điều phi lí đó. Anh trai của Đông phải thuê truyền thần hình cha mình từ một bức ảnh chụp chung cha mẹ đã cũ.
 Huy Đông cố gắng soạn lại các di vật của cha, nhưng không tìm thấy bất kì một tài liệu nào của ông viết về những gì ông đã làm hoặc biết đến trong cuộc truy tìm „ Mật đồ Cao Biền“ mà ông đã tiến hành cả.
Sáu tháng sau, sau khi hoàn thành thi cử và bắt đầu nghiên cứu hướng đi cho đề tài Phó tiến sĩ Lịch sử của mình, Huy Đông trở về Huế nghỉ ngơi một thời gian. Một buổi sáng, không có ai ở nhà anh quyết định lâý chiếc thùng sắt đưng bảo vật lên xem. Mặc dù Huy Đông cẩn thận lật từng thứ để săm soi nhưng anh không thấy thêm bất cứ một trang giấy hay một vật gì ngoài chiếc hộp gỗ, chiếc thẻ lệnh bài bằng ngà voi và cuốn sổ lưu những thông tin từ thời vua Thiệu trị. Sơ ý Huy Đông để rơi mấy hạt đất vào trong chiếc hộp,  anh liền thận trọng nhặt ra vì vậy anh bỗng nhận ra dưới đáy nhung đỏ cuả hộp gỗ có viết một hàng chữ nhỏ. Bê chiếc hộp ra cạnh cửa sổ Huy Đông đọc được hàng chữ và số bằng chữ Latinh:
                LE 12233445
Như vậy ba của anh đã viết vào đây từ rất lâu rồi. Ngoài chữ LE là họ của dòng tộc ra, những con số xếp thành dãy thăng tiến dần không cho Huy Đông một chút ý nghĩa nào cả. Vì sao ba anh lại chọn những con số mà lại không viết thành câu từ trong một tờ giấy ? chỉ vậy thôi anh sẽ hiểu được ngay mà không lộ bí mật cho ai, vì sao phải mã hóa một sự việc không cần quan trọng hóa đến như vậy ?
 Dòng mật mã này là Ba cuả Huy Đông để lại cho chính riêng anh, ông chỉ đơn thuần thử thách  khả năng suy đoán và kiến thức hiêủ biết của con mình. Bằng việc vượt qua được thử thách này thì Huy Đông mới đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ của dòng họ Lê mà không gặp thất bại. Ý thức được suy nghĩ của cha mình, Huy Đông càng phấn khích truy tìm bắng được tài liệu của cha để lại. Nhưng làm sao giải mã được dãy số bí ẩn này ?
Hai ngày trôi qua với bao công sức, Huy Đông tìm lục tất cả mọi ngóc ngách xó xỉnh trong nhà và ngoài vườn nhưng không có chút mối manh nào cả, anh chán nản bỏ ra ngồì uống café bên chiếc quán quen thuộc bên bờ sông Hương. Anh vẫn không dứt bỏ được nỗi ấm ức trong lòng vì sự bất lực của mình. Anh tin rằng cha anh không đưa ra một bài tập quá khó, nằm ngoài tầm với của anh, chẳng qua là Huy Đông chưa suy tính hết mình mà thôi.
Ngày hôm sau, Huy Đông tạm gác công việc giải mã và để giải trí anh lên thư viện trường Đại học đọc sách tim tư lỉệu cho nghiên cưú chuyên sâu của mình. Trong lúc suy nghĩ về một nhận định trong một tài liệu mới đọc, anh lơ đễnh ngắm nhìn những tủ sách trưng bày các bộ sách lí luận kinh điển nhiều tập của Lenin. Dãy sách có các con số thứ tự 1,2,3,4…Bỗng trong đầu Huy Đông bật lóe sáng ý nghĩ:
LE chính là họ Lê, tức là phải đến nhà thờ dòng tộc họ Lê mà tìm.
Huy Đông vội vã lấy xe đạp nhanh theo quốc lộ 1 về quê gốc của anh. Đến nhà thờ dòng tộc họ Lê, sau khi chào hỏi người trông nom chăm sóc nhà thờ anh liền vào chánh điện thắp hương, sau đó bắt đầu kiếm tìm. Huy Đông chú ý ngay đến 4 ciếc hòm đóng bằng gỗ, mỗi chiếc to như một chiếc vali cở lớn xếp dưới gầm bệ thờ chính giữa. Anh chạy ra gặp người thủ từ:
-         Thưa Bác,  Những thùng gỗ dưới gầm bệ thờ chứa cái gì vậy ?
Người thủ từ từ tốn:
-         Đó là hòm đựng sổ ghi gia phả của dòng họ mình đấy. Cháu không biết chứ Ba của cháu lúc còn khoẻ được họ giao cho việc ghi thêm sự kiện sinh tử trong họ ta mỗi một năm một. Từ khi ông mất rồi, công việc  được giao cho người khác, nhưng ông này chưa đến đây lần nào nên chìa khóa vẫn treo trong nhà của tôi.
-         Bác cho cháu mượn chìa khoá, để cháu tìm xem ba cháu có để lại di chúc cho chúng cháu không ?
-         Được thôi ! chờ bác vào lấy cho.
Mở nắp hòm thứ nhất và cũng cũ kĩ nhất, Huy Đông nhìn thấy 6 cuốn sổ to và dày, có đánh số thứ tự bằng chữ Hán. Anh hồi hộp nhấc cuốn thứ hai ra khỏi thùng gỗ, thận trọng giở từng trang giấy ố vàng đầy chữ Hán, Huy Đông tìm thấy một tờ giấy mỏng có bút tích của Cha anh bằng chữ Quốc ngữ:
Huy Đông thương yêu của Ba,
con đã tìm được mảnh giấy này, có nghĩa rằng con đã đủ tư cách để tiếp tục nhiệm vụ chưa hoàn thành của dòng họ ta. Ba đã tin con đủ khôn khéo vượt qua những hiểm nguy rình rập mà trước đây Ba không vượt qua được. Ba thay mặt tổ tiên cầu chúc cho con có nhiều may mắn. Ba rất buồn là không để lại cho các con tài sản vật chất giàu có nào cả ngoài vốn học vấn mà ba mẹ chịu bao khổ cực nuôi các con ăn học cho nên người, nếu các con hiểu được lẽ phải, thì đó là tài sản vô giá của ba mẹ để lại. Hãy sống  có ý nghĩa như một con người thật sự mang dòng họ Lê Huy.
  Ba thương yêu các con hơn chính mạng sống của mình.
                                                       Ba của các con
                                                        Lê Huy Tự
Trong hòm số 2 ở vị trí thứ 3, hòm số 3 ở vị trí thứ bốn và hòm số 4 ở vị trí thứ 5, Huy Đông tìm thấy nhiều tập ghi chép của Ba anh chi chít chữ viết nhỏ nhưng rất chân phương. Khoá các hòm gỗ và cẩn thận xếp vào vị trí cũ xong, Huy Đông ra giả thích vắn tắt cho bác Thủ từ, rồi cất các tập ghi chép vào túi, vội vã trở về Huế.
Không nén được háo hức tò mò, Huy Đông giở ra xem ngay các trang tài liệu của cha để lại mà không kịp tắm rửa, ăn uống như thói quen hàng ngày.
Ông Tự viết lại tự truyện dưới dạng nhật kí, bắt đầu từ ngày anh thanh niên Lê Huy Tự làm thư kí Hỏa xa ở Ga Huế,  rồi anh tham gia cách mạng đấu tranh với những người quản lí cũ, vốn thân với chính quyền thực dân Pháp, kiên quyết không cho họ di chuyển các đoàn tàu vào Nam. Tuy là con của gia đình quan lại, thư sinh yếu đuối, chỉ sau một thời gian là đội viên Tự vệ Cưú quốc, anh Tự thay đổi hẳn tác phong trở nên mạnh mẽ, dũng cảm hơn. Năm 1947, trước nguy cơ quân đội Pháp chiếm lại Trung kì, đội Tự vệ Ga Huế được lệnh tổ chức di chuyển toàn bộ cơ sở vật chất của ga Huế ra miền Bắc. Đến địa phận tỉnh Hà tĩnh toàn thể đội viên của Đội Tự vệ được tạm thời chuyển công tác sang làm công nhân xưởng  Quân giới mang tên Lê Hồng Phong. Tại đây tình yêu của anh với một cô thôn nữ cùng làm việc trong phân xưởng đã giữ chân anh bằng một đám cưới kháng chiến vaò năm đầu năm 1948. Trong tinh thần Toàn quốc kháng chiến anh Lê Huy Tự xung phong gia nhập Vệ quốc quân và hành quân ra Bắc. Vừa hành quân vừa huấn luyện, khi đến Việt bắc đơn vị Tân binh của anh đưọc biên chế vào một Sư đoàn bộ đội chủ lực chuẩn bị cho chiến dịch Biên giới đánh nhau với quân Pháp lúc đó đang cố gắng tiêu diệt nhà nước Việt nam dân chủ công hòa còn non trẻ. Vào một ngày rét mướt, mưa phùn gió bấc cuối năm 1948.
Ngày 6 tháng 11 năm 1948.
 Hôm nay mình được chính trị viên Đại đội Minh cử đi vào trong bản của người Mường làm công tác dân vận cùng vơí chính trị viên phó Văn và tiểu đội trưởng tiểu đội 4 của mình là anh Hương người Hà tĩnh. Mình được chọn đi vì trình độ văn hóa cao nhất trong Đại đội. Ba người làm thành một tổ Tam Tam, chỉ có anh Văn là thắt lưng đeo súng lục Pac hoọc báng vuông, còn hai người chúng mình thì chỉ mang theo túi dết đựng giấy bút và tài liệu tuyên truyền. Chuyến công tác dự định là 2 ngày nên mình phải mang theo một ruột tượng gạo vắt quanh aó „trấn thủ“ bằng vải bông chần chỉ ô quả trám.
Ba anh em hăm hở luồn rừng theo một lối mòn, một bên là dãy núi đá vách đứng, một bên là vực sâu có dòng suối chảy ngoằn ngòeo tít dưới sâu. May là mình cũng đã quen ở rừng rồi chứ như từ Huế đột ngột vào đây chắc phải chết khiếp, sau chuyến đi này laị có khối chuyện viết thư kể cho vợ mình nghe đây.
Sau hai tiếng vất vả lê những đội giày vải đế cao su trở nên nặng chịch vì bám đầy bùn đất, chúng mình tiến vào bản Pú oẳn. Những căn nhà sàn nằm rải rác trong một thung lũng tạo nên một cụm đân cư nghèo nàn của người dân tộc Mường, những con chó nhỏ bé nép mình thủ thế dưới gậm nhà sàn cất tiếng sủa râm ran, những con lợn cỏ lông dài bàn đầy bùn thản nhiên nhìn người lạ rồi cúi mõm dũi đất tiếp như không có gì xảy ra. Trẻ em và phụ nữ đổ ra đứng trên ban con nhà sàn ngắm nhìn Bộ Đội với những cặp mắt đầy tò mò thân thiện. Từ cuối bản một ông già quân aó chàm xanh, khuôn mặt khắc khổ đầy nếp nhăn, tất tả chạy đến đon đã:
-         Chào các Bộ đội Cụ Hồ, tôi là trưởng bản. Xin hỏi các Bộ đội vào đây có việc gì ?
Anh Văn rập gót giày, đưa tay lên ngang vành mũ chào rất oách:
-         Chào Trưởng Bản, tôi! Chính trị viên phó Đại đội Nguyễn đức Văn dẫn chiến sĩ vào đây làm công tác dân vận.
Ông trưởng bản già hơi bị lúng túng, ngỡ ngàng trước sự trịnh trọng quân nhân của anh Văn, làm mình và anh Hương suýt bật cười thành tiếng, chính trị viên phó quay sang lườm mình một cái, nghiêm mặt:
-         Suỵt !
 Không khí trở nên thoải mái hơn khi trưởng bản xuề xòa:
-         Được rồi ! được rồi ! mời Bộ đội về nhà mình ta bàn công việc !
Công việc dân vận nói chung là rất vui. Mỗi người đến từng nhà trò chuyện, cùng làm việc vơí nhân dân, dạy trẻ em học nói tiếng phổ thông, thăm nom người già, người bị ốm…theo chính sách „ba cùng“ của quân đội cách mạng. Buổi tối, cả bản tập trung ở nhà trưởng bản nghe anh Văn nói chuyện về lí tưởng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghiã, về cuộc kháng chiến chống Pháp qua ba thời kì „cầm cự, phòng ngự, phản công“, kháng chiến trường kì nhất định thắng lợi. Người dân tộc chất phác và giản đơn, nên mình biết họ chẳng hiểu hết những lời hùng hồn của chính trị viên phó Văn , nhưng họ vẫn vui vẻ mời rượu khen bộ đội nói hay. Kết thúc buổi nói chuyện mình buồn ngủ díp cả mắt, trải chăn ngay cạnh bếp ngủ ngay quên cả qui định cảnh giác khi đi công tác giã ngoại. Nhớ vợ đến nao lòng.
Ngày 7 tháng 11 năm 1948.
Hôm nay lại tiếp tục công tác như hôm qua. Mình vào một nhà sàn giáp bìa rừng, vắng lặng và tồi tàn hơn những nhà khác, chỉ có hai ông bà già lắm ngồi bên bếp lửa. Nhìn hai khuôn mặt quắt queo do thời gian, mình không khỏi xót xa cho kiếp con người. Tuổỉ già cô quạnh hiu hắt giữa đô thị đã thiệt thòi, thì tuổi già yếu đuối chốn rừng sâu lại càng bi đát gấp nhiều lần.
Trò chuyện hồi lâu, mình mới được biết hai vợ chồng ông bà này lúc còn trẻ từng làm công cho quan Tri châu quyền thế nhất huyện Hữu lũng này, thời thế thay đổi không còn quan châu nữa, ông bà lần hồi trở về bản Pú oẳn, sống chờ chết. Khi được mình hỏi về những truyền thuyết xa xưa của vùng này, ông lão bỗng trở nên linh hoạt hơn:
-         Lão biết nhiều lắm vớ, laõ muốn kể lại cho mọi người nghe lắm. Chứ khi lão chết rồi thì mọi việc cũng mang theo luôn, tiếc lắm bộ đội ạ.
-         Vâng nếu vậy thì tối nay cháu sẽ đến nghe cụ kể được không ?
-         Ồ ! vậy thì tốt lắm vớ !
Tối đến mình xin phép anh Văn, rồi rủ thêm anh Hương mang theo giấy bút đến nghe chuyện của ông lão. Uống thêm một bát rượu trắng cho đủ hứng, ông già bắt đầu câu chuyện:
Từ bản Pú oẳn này đi thêm một chốc nữa theo dãy núi Cai kinh, có một thung lũng nằm heo hút giữa các rặng núi đá. Cuối thung lũng, nơi phát xuất một mó nước ( nguồn nước ) là một hòn núi đá hơi bị tách ra khỏi dãy núi mẹ, dân quanh vùng gọi nó là núi  Ca biên, một ngọn núi linh thiêng, thần bí, mùa đông lúc nào cũng mờ aỏ trong mây mù. Theo truyền tụng của dân Mường thì dưới chân núi Ca biên lấp sau những rừng cây chằng chịt dây leo có một cái hang đá có ma giết người rất độc ác. Không một ai đi vào hang mà có thể quay trở về, hang ma nuốt chững ngay nhưng con người dại dột muốn chọc giận thần núi. Vào những ngày mưa bão người quanh vùng nghe như có tiếng gào rít của nhưng linh hồn chết mất xác trong hang núi Ca biên cảnh báo những ai muốn đến hang đá. Bí ẩn bao trùm lên núi Ca biên hàng trăm năm cho đến một ngày.
Hôm đó là một buổi sáng mùa đông lạnh lẽo và ẩm ướt vì mưa phùn cả một tuần rồi. Có hai người Mường lạ mặt đi theo mép rừng, cố ý tránh gặp người trong các bản nằm rải rác trong thung lũng. Đó là một người đứng tuổi, khuôn mặt giữ tợn với một vết sẹo chạy suốt má bên trái, hắn ăn bận gọn gàng kiểu aó chàm dệt thổ cẩm dày dặn, tay cầm lăm lăm một cây đại đao sáng quắc. Người kia là một thanh niên trạc ngoài 20, khuôn mặt chất phác, hơi có vẻ đần độn, vụng về cầm một ngọn giáo cán dài. Anh ta lật bật đi như chạy sau lão già, nhưng thi thoảng người đi trước vẫn phải ngoái lại dục:
-         Nhanh lên, nhanh lên! Văn Mén !
-         Lão Páo à ! Tôi đang gắng đi nhanh đây ! Lão đi như chạy vậy để làm gì, trời còn sớm lắm mà !
-         Còn nhiều việc phải làm lắm ! Ta muốn mọi thứ đều làm xong và quay về trong ngày hôm nay, không được ngủ lại ở bất cứ chổ nào cả, quan châu đã dặn thế rồi, mày quên rồi sao ?
-         Thì tôi có quên đâu, nhưng tôi không quen đi nhanh như ông đâu, lão Paó à !
Nói vậy thôi chứ hắn lại tiếp tục đi nhanh hơn, cứ như có người đuổi theo sau lưng vậy.
Đến chân núi Ca biên, hai người vưà đi vừa phát cây mở lối. Gần đứng bóng thì họ đã đến được trước cửa hang thần. Khí núi lạnh lẽo đầy tử khí thoát ra từ cửa hang chằng chịt dây leo làm cho cả hai người chợt cảm thấy rùng mình, họ nắm chặt vũ khí thận trọng từ từ tiến đến cửa hang. Bỗng Văn Mén rú lên một tiếng :
-         Trời ơi !
Trên đám lá mục lấp sau đám dây leo là 2 bộ xương người trắng hếu, những hốc mắt sâu hoắm, xương hàm mở to hình như do trước lúc chết kêu la vì đau đớn.
Lão Páo không bận lòng đến sự khiếp sợ của Văn Mén vẫn xăm xăm đi tiếp. Đến trước cửa hang thì bỗng hắn giật mình đứng lại thủ thế. Lần này Văn Mén lại chết khiếp hơn trước một cảnh tượng rùng rợn bày ra trên nền đất ẩm vì phân dơi trước cửa hang. Một xác chết trông xa như đang ngồi dựa lưng vào thành hang, đầu ông ta bật ngửa do cổ bị một nhát cắt rộng, máu thâm đen kiến bu đầy trên bộ quần áo kiêủ người Hoa vùng Phúc kiến. Hai tay người chết bị trói ngặt sau lưng, chứng tỏ ông ta bị bắt , bị tra hỏi rồi mới bị giết.
-         Đã có người đến đây trước ta. Chúng còn đây hay đã đi rồi ?
Lão Páo lẩm bẩm, đứng tần ngần một chốc trên đám đất ẩm trước cửa hang. Văn Mén thì run lẩy bẩy, luôn mồm dục Lão Páo:
-         Về thôi ! về thôi ! ông Páo à ! vào là chết đấy ! về thôi ! Tôi không vào hang nữa đâu!
-         Thằng nhát gan, im miệng ngay để ta suy tính !
Hắn lẩm bẩm:
-         Vì sao trên nền đất lại có rất nhiều dấu giày vải khác nhau, áng chừng khoảng 4 người. Nhưng kì lạ và đáng sợ hơn là các dấu chân chỉ có đi vào mà không thấy đi ra. Như vậy có hai khả năng, một là chúng đang ở trong hanh để làm cái gì đó, nhưng căn cứ vào xác chết ngồi trước cửa hang thì chúng vào hang phải dược hơn 2 ngày rồi, chẳng có lí gì mà chúng phải nương náu trong cái hang lạnh lẽo với một xác chết ngồi trước cửa hang như thế này cả. Vâỵ chắc chắn là chúng đã chết trong hang rồi, tất cả đều chết. điều đó có nghĩa là chúng không chết do chém giết tranh giành  của cải lẫn nhau mà bị giết hết tất cả cùng một lúc. Khủng khiếp thật. Vốn là một tên cướp khét tiếng giết người, chuyên chết chóc đối với Lão Páo không sợ gì hắn lại không tin vào ma quỉ thần linh, nhưng với lần này thì lão cũng cảm thấy nghi ngại, lo lắng. Đắn đo một lúc với bản tính không chùn chịu thua vì  sợ hãi, lại cộng thêm viễn cảnh giàu sang khi vớ được kho của chôn giâú trong hang. Hắn đọc to câu thần chú đã học thuộc lòng từ bấy lâu nay;
                                Ông sư ngồi thiền
                                Trăm chân chổng lên
                                 Nhắm mắt tay mặt
                                 Hai lần vung tay
                                 Mình đeo giáp sắt
                                 Đá vỡ hương thơm
                                 Không khôn thì chết
                                  Của ôm lấy hết
                                  Địa ngục vẫn còn
                                  Bó buộc định mệnh
                                  Khổ nhục ngàn năm.
Rồi hắn đốt bó đuốc mang theo, kéo tay Văn Mén đi vào hang. Chàng trai giật nẩy người co rúm:
-         Tôi không vào đâu ! Vào để chểt à, Lão Páo ta về thôi, quan châu có phạt cũng không bằng  chết do thần núi bắt đâu !
Lão già bực quá quát ầm lên:
-         Mày là đồ thối thây ! Mày không vào thì đứng đây chờ tao, tao vào một mình cũng được.
Nói rồi hắn hùng hổ đi vào, để mặc Văn Mén đứng tần ngần trước cửa hang, không biết nên theo lão Páo hay đứng chờ bên cái xác chết ngồi ngửa cổ một cách rùng rợn giữa chốn heo hút đến rợn người như thế này. Chờ một chốc Văn Mén bắt đầu thấy sốt ruột, hắn tiến về phía bóng tối gọi to:
-         Lão Páo à ! Lão Páo à !
Tiếng vọng của vách đá dội lại:
-         Lão Páo à à à à !
Không có tiếng Lão Páo trả lời, Văn Mén càng hoảng sợ hơn, đang luýnh quýnh chưa biết phải làm gì, bỗng hắn nghe tiếng gọi thất thanh của Lão già:
-         Mén à ! cứu ta với, cứu với !
Rồi từ trong miệng hang tối om lão Páo loạng choạng chạy ra, đến gần trước Văn Mén, lão già không gượng được nữa đổ sụp xuống lăn lộn trên mặt đất đầy lá mục. Mặt lão co dúm lại vì khiếp hãi, mồm há to đớp khí, lưỡi thè ra tím đen. Co giật một lúc thì lão Páo đờ người ra chết, ngón tay của bàn tay trái từ từ duỗi ra bưông xuống mặt đất một mảnh giấy nhỏ bằng bàn tay. Khi đi vào lão không có mảnh giấy này. Quá sợ hãi, nhưng Văn Mén cũng kịp nhặt vội mảnh giấy kì lạ rồi hắn cuống cuồng vứt cả cây giáo dài buơn rừng chạy về hướng nhà của quan Châu Hữu lũng kêu cưú.
 Quan châu Hữu lũng vốn là một thầy đề lại của một huyện đường vùng kinh bắc, do chịu khó làm việc và ham học hỏi nên được cấp trên cất nhắc sang ngạch quan trị dân. Ngài được đưa thử lên miền núi làm quan châu. Do vậy Ngài hết lòng vì công việc, để mong quan trên hài lòng mà chuyển về làm tri huyện gần quê nhà. Chiều nay sau khi dùng bữa chiều, ngài lại vào thư phòng đọc sách theo thói quen, bỗng ngài nghe có tiếng lao xao ngoài cổng, rồi một gia nhân chạy vào bẩm báo:
-         Thưa Quan, có một kẻ xưng là từ hang thần Ca biên chạy về cầu cứu, hắn một mực xin được gặp quan.
Định xua tay gạt đi không muốn gặp, nhưng nghe đến tên hang Ca biên, Quan châu liền đổi ý:
-         Cho hắn vào đây gặp ta.
Nhìn kẻ lạ mặt rúm ró đi vào, quan không khỏi thương hại:
-         Bình tĩnh ngồi xuống ghế, rồi ta baỏ gia nhân cho cốc nước nóng mà uống.
Chờ tên lạ mặt uống xong cốc nước, quan mơí nói:
-         Giờ thì mày bình tĩnh kể ta nghe chuyện gì đã xảy ra khiến mày hốt hoảng chạy về đây kêu cưú.
Qua rồi cơn hoảng loạn nên Văn Mén ấp úng:
-         Thưa Quan, con và bạn con từ Châu Chi lăng đi buôn sang vùng này..
Quan châu quát to:
-         Thằng này láo, mày định đánh lừa quan hả, khôn hồn thì kể thật ra, bằng không thì ta gép vào tội giết người cướp cuả thì chỉ có tội chết nghe không !
Văn Mén hoảng sợ đành quên lời dặn của quan châu Chi lăng trứơc khi đi với Lão Páo sang đây, hắn thực thà:
-         Thưa quan, xin quan tha lỗi ! Con tên là Văn Mén người nhà của quan châu Chi lăng được cử đi cùng tên tướng cướp Văn Páo sang đây bí mật làm một việc quan trọng.
-          Đó là việc gì nói mau !
-         Số là cách đây 1 tháng có một người tên là  Nông văn Hợp sống trong đất châu Chi lăng tìm đến nhà quan chau Chi lăng xin nộp một tờ giấy gọi là thần chú  kèm theo một bức địa đồ hướng dẫn đi tìm báu vật. Tên Nông văn Hợp kể rằng từ bao đời trước đây của nhà nó có một người Trung hoa xưng là thầy địa lí bị vua nhà Đường bên đó xua đuổi nên không thể nào trở về cố quốc được xin được kết bạn để nương tưạ lúc ốm đau, già yếu. Khi có điều kiện thì sẽ về ngay nên hắn chọn vùng Chi lăng tạm trú cho tiện đường. Chẳng may  người đó bị bệnh nặng, biết không thể qua được, hắn liền gọi tổ tiên cuả  tên Hợp đến bên,  đưa ra một chiếc hộp bằng bạc rồi dặn lại:
-         Mai sau con cháu tôi sang tìm tôi, khi chúng đến đây thì ông đưa cho chúng cái hộp này. Con Cháu tôi sẽ đền đáp xứng đáng cho ông hay con cháu ông.
Sau khi người Trung hoa chết rồi, tổ tiên của tên Hợp vẫn một mực chờ ngươì nhà của hắn đến để giao chiếc hộp đó. Chờ mãi cũng chẳng có ai đến nên con cháu của chủ nhà liền mở ra xem thì thấy bức địa đồ và tờ giấy ghi thần chú, biết đây là nơi giấu kho báu của người Trung hoa nên họ liền sao lại thành nhiều bản rồi đi tìm lấy của cải. Nhưng nhiều lần đi với nhiều người trong họ của tên Hợp đều không có một ai trở về khiến tên Hợp rất sợ hãi. Nhất là mới đây thì có con cháu của thâỳ Điạ lí Trung hoa đến lấy chiếc hộp có bảo sẽ  đền ơn. Chờ mãi không thấy người đó quay trở lại, tên Hợp bèn đến trình quan châu toàn bộ sự việc mong quan truy xét.
Quan châu Chi lăng nhận lấy những vật được nộp và chợt nghĩ đây là một dịp may hiếm có. Không bẩm báo lên quan trên và cũng không cho ai hay, ngai đọc kĩ hai mảnh giấy rồi sai Văn Mén đi gọi người tay chân thân tính là Nông văn Páo đến. Lão Páo là một tên cướp khet tiếng của vùng Lạng sơn, Cao bằng. Hắn đã gây nhiều tội ác cho nhân dân, nhiều lần quan tỉnh đưa quân đi tìm bắt, nhưng nhờ sự chở che của quan châu mà hắn vẫn thoát thân được. Bây giờ tuổi già sức yếu, gác kiếm giang hồ, hắn tìm về nương náu trong đất cai trị của quan châu Chi lăng, nên hắn rất trung thành với quan châu. Hai người bàn bạc hồi lâu rồi quyết định bí mật cử Lão Páo và Văn Mén theo hướng dẫn của địa đồ đi vào hang Ca biên quyết lấy được của cải giấu trong đó về.
 Chuyến đi của Lão Páo tưởng sẽ đạt đến giàu sang, không ngờ lại bị chết một cách thảm thương bởi thần núi Ca biên.
Nghe kể đến đây, quan Châu Hữu lũng gặng hỏi:
-         Thế mày đã thấy gì xảy ra khi cùng lão Páo đến hang thần ?
Văn Mén liền kể lại nhưng gì mà hắn được chứng kiến ngày hôm nay với nỗi khiếp sợ. Quan Châu hỏi:
-          Tờ giấy này đúng là do Lão Páo mang trong hang ra ?
-         Bẩm quan , đúng vậy ạ !
-         Mày có chắc không ?
-         Thưa chắc lắm ạ, vì con cũng được xem qua hai tờ giấy mà tên Hợp đua cho quan Châu con. Đó là hai tờ giấy còn mới và chỉ là bản sao của tờ giấy này thôi. Tờ này cũ và chữ viết đẹp hơn tờ giấy ghi thần chú trong tay quan châu Chi lăng, con chắc chắn là như vậy.
Quan châu cho gọi gia nhân lên, ngài bảo họ đưa tên Văn Mén xuống nhà dưới, cho hắn ăn uống nghỉ ngơi cẩn thận và giữ không cho hắn đi về hoặc tiếp xúc với ai cả.
Quan châu ngồi một mình trong thư phòng, ngài săm soi tờ giấy kì lạ. Ý muốn khám phá bí mật của hang Ca biên khiến ngài hứng khởi lạ thường vì ngài không tin một tí nào vào chuyện ma quỉ như người ta đồn thổi. Quan châu gọi gia nhân pha cho Ngài một ấm chè thật đặc vì ngài biết ngai sẽ phải thức hết đêm nay.
Ngồi bên ngọn đèn dầu lạc, Quan châu thận trong lật qua lật lại tờ giấy. Đó là một tờ giấy dai và dày vì tuy đã ngã sang màu vàng sẩm, nhưng nó vẫn còn bền lắm. Trên một mặt của nó có viết một bài thở không có gieo vần cẩn thận và tối nghĩa bắn Hán tự, tam dịch ra như thế này:
                         
                                Ông sư ngồi thiền
                                Trăm chân chổng lên
                                 Nhắm mắt tay mặt
                                 Hai lần vung tay
                                 Mình đeo giáp sắt
                                 Đá vỡ hương thơm
                                 Không khôn thì chết
                                  Của ôm lấy hết
                                  Địa ngục vẫn còn
                                  Bó buộc định mệnh
                                  khổ nhục ngàn năm
tuy chữ viết nhỏ nhưng rất đều và đẹp, các nét chữ sắc sảo khoẻ khoắn, chứng tỏ người viết là một bậc tài trí hơn người, công lực thâm hậu. Mặt kia củ tờ giấy lại chỉ có độc một hinh vẽ âm dương:

                                              
Quan châu đọc đi dọc lại nhiều lần bài thơ kì quái như một bài thần chú. Ngài thấy nó có ý hướng dẫn ngườ ta vừa có ý răn đe, nhưng vì sao phải răn đe thì ngài không đoán ra được. Trời đã khuya lắm rồi, đã uuống hết âm nước chè xanh mà Ngài vẫn chưa tìm được ý tứ thật sự của câu thần chú. Lật sấp tờ giấy lại như có ý tạm chịu thua, ngài chợt chú ý vào hình âm dương ở mặt sau. Ví sao mặt này chỉ có một hinh vẽ này mà thôi ? Phải chăng cóa ý nói rằng: Đi vào hang tối sâu trong lòng núi như là đi vào cõi âm ? Điều đó chẳng có ý nghĩa thực tế gì cả. Bỗng quan châu rướn người ngồi thẳng dậy. Ngài nghĩ nhanh, bên mặt này là bài thơ tối nghĩa, mặt sau thì  lại có hình vẽ âm dương, phải chăng muốn hiểu được phải thìm lời giải trong sách Kinh dịch…Quan châu liền lật đật đi đến giá sách lấy cuốn sách luận giải Kinh dịch và ngài tìm những lời chú giải cho âm dương trong đồ Bát quái


                                      

                                        „ Vô cực sinh Thái cực
                                       Thái cực sinh Lương nghi
                                      Lưỡng nghi sinh Tứ tượng
                                           Tứ tượng sinh Bát quái
                                           Bát quái sinh vô lượng“
Cầm cuốn sách trong tay hướng trước mặt, Quan châu đi đi lại lại trong phòng:
-         „Không thể“ xuất hiện „thể“, nhất thể chứa nhị phân: âm và dương. Âm đối nghịch với dương, dương là cực trái với âm, trong âm có dương và ngược lại trong dương chứa âm. Chà ! Rắc rối quá !
Quan châu nhận thấy rằng, chẳng những Ngài không thể tìm được ỳ tưởng nào trong sách cho bài đố hóc hiểm của lão thầy Tàu mà dường như cuốn luận giải Kinh dịch còn làm cho Ngài u mê lẫn quẩn hơn trong suy nghĩ. Đặt cuốn sách vào chỗ cũ, Quan Châu quay lại với tờ giấy bí hiểm nằm trơ trọi trên mặt bàn gỗ. Hình vẽ âm dương được vẽ ngay ngắn chính giữa làm cho nó có vẻ như một tấm giấy bùa chú của các ông thầy mo dùng để gián lên vách hay để đốt trong các cuộc hành lễ trừ tà ma.
-         Âm dương của Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi, Một sinh ra hai, hai có trong một. Thôi chết rồi ! Phải chăng là hình vẽ muốn nói lên: một tờ giấy tách dược thành hai tờ giấy?
Ngài vội cầm mảnh giấy thần chú lên, dùng hai ngón tay mân mê, quan châu nhận thấy nó có vẻ dày hơn tờ giấy bình thường.
 Quan châu liền giơ cao tờ giấy trước ngọn đèn, ngài liền phát giác ra khoảng giấy có hình vẽ tối hẳn so với chung quanh, dường như ở đó giấy dày hơn. Nắn nắn khoảng giữa tờ giấy, ngài nhận biết có một vật mềm nằm trong đó.
-         Có thế chứ ! có thế chứ !
Quan châu lẩm bẩm thú vị, rồi ngài lấy một con dao mỏng thận trong tách đôi tờ giấy thành hai lớp. Quả thật, một miếng gấy khác rât mỏng gấp nhỏ lại được đính chèn giữa hai lớp giấy dán ép vào nhau.Lòng tràn đầy phấn khởi, quan châu mở vội tờ giấy mới thu được ra xem, thì ngài lại kêu toáng lên một mình:
-         Quái quỉ cái lão thầy Địa lí này ! Đúng là thâm như Tàu !
Thì ra trên hai mặt của tờ giấy này có ghi chi chít chữ Hán nhỏ li ti nhưng rất có thứ tự, hàng lối rõ ràng. Đọc hết cả hai mặt, nhưng quan châu lại lấy làm bực tức hơn vì chúng chẳng cho một ý nghĩa nào cả, cứ như người viết bị điên nhặt ngẩu nhiên các chữ trong tự điển mà viết ra vậy. Tuy bực bội nhưng quan châu vẫn bị niềm vui của việc khám phá thành công ban đầu vừa rồi kích thích, ngài vươn vai đi lại mấy vòng, tỉnh táo hơn ngài bắt đầu đọc kì hơn các dòng chữ của cả hai mặt giấy. Ngài phát hiện ra trong khi một mặt giấy viết toàn nhưng chữ đầy đủ, còn mặt kia chỉ có các kí hiệu gốc của chữ Hán, mà người ta gọi là bộ chữ. Tại sao vậy ? quan châu bèn đứng đậy lấy cuốn Tự điển Tiếng Hán xuống xem. Ngài thú vị nhận thấy rằng, các bộ chữ Hán được sắp xếp thứ tự như thứ tự  A, B, C …Z trong chữ quốc ngữ. Nghĩa là lão Thầy Địa lí dùng thứ tự cửa các bộ chữ để làm chìa khoá  giải mã cho mặt kia của tờ giấy.Ví dụ như: bộ „ nhất“ có vị trí là 1, tương ứng ta nhặt lấy chữ đầu tiên của dòng đầu tiên, nhặt hết các chữ bằng cách như vậy ta sẽ có một bài viết có ý nghĩa.
Cặm cụi giải mã hồi lâu, quan châu thu được một bài viết như sau:
Từ hòn đá hình ông sư, bước 100 bước,  quay sang bên phải, cửa hang giấu của cách mặt đất hai cánh tay. muồn phá đá che hang phải mặc đồ không hở thịtân và phải bịt kín mũi, làm vỡ đá có hương thơm thì chết, phải lấy hết của mang về.Lấp hang lại, của thiên hạ kệ cho số phận. Còn của phải tạ ơn, mất của phải tìm cách lấy lại.“
 Quan châu mừng quá, ngài mong trời chóng sáng để chuẩn bị đi khám phá bí mật hang Ca biên. Ngài biết rằng tuy nắm được cách thức đi lấy của, nhưng thực tế bao năm tháng qua không biết còn có những bất ngờ nào nữa đang chờ đón ngài trong hang. Phải hết sức thận trọng, ngài tự nhủ vậy.
Trời còn tờ mờ sáng, quan châu  đã vùng ngay dậy tỉnh táo như không phải qua một đêm gần như thức trắng. Ngài cho gọi người em ruột vốn rất yêu thương kính trọng anh trai, nên khi ngài chuyên lên làm quan châu ở vùng rừng núi heo hút này cậu ta cũng tình nguyện đi theo để giúp đỡ anh. Suy tính hồi lâu quan châu chọn được thêm 2 người tâm phúc cũng là người bà con trong họ của ngài, gắn bó với nhau từ khi ngài còn là thầy đề lại mới nhậm chức. Bảo người nhà chuẩn bị cuốc thuổng, túi vải lớn nhỏ và một súc vải còn mới, ngài giả thích cho mọi người là phải lên hang Ca biên chôn liệm nhưng người xấu số bị thần núi bất chết, ai nấy đều lắc đầu lè lưỡi khiếp sợ. Tên Văn Mén nhìn theo đám thầy trò 4 người của quan châu khởi hành mà không thôi lo cho số phận hẩm hiu của họ. Đoàn người lỉnh kỉnh đồ đạc nhằm hướng hang thần Ca biên lầm lũi đi, trong số họ chỉ có hai anh em quan châu là có mang theo súng kíp và kiếm. Vốn thông minh và từng trải, quan châu tính đến trường hợp xấu nhất thì với vũ khí tốt 2 anh em ngài vẫn chiếm ưu thế trước tình huống vì  lòng tham mà nẩy ý xấu của thuộc hạ.
Đén trước cửa hang thần, cảnh tượng khủng khiếp bày ra đúng như lời tên Văn Mén đã mô tả, chỉ khác là xác Lão Páo bây giờ đã cứng ngắc, kiến bắt đầu bu quanh chân tay mặt mũi tím đen. Nhìn kĩ mũi của hắn, quan châu nhìn thấy  máu đen chảy ra do người chết đã bị ngửi phải khí độc trong hang, đúng như ngài dự đoán, chất độc giết chết Lão Páo chính là chất độc được điều chế thành khí có mùi thơm dễ chịu mà người ta cho vào trong các lọ thuỷ tinh rất mỏng sơn giả những viên đá nhỏ. Vô tình làm vỡ nó thì chỉ có chết khi ngửi phải hương thơm ma quái đột nhiên xuất hiện trong hang.
-         Tên người Tàu này độc ác thật.
Quan châu lại khiến cắt trói cho tên người Phúc Kiến, rồi ngài cẩn thận lục soát khắp người hắn, ngài thu đựoc một giấy thông hành của một huyện đường bên Trung hoa cấp cho người họ Cao tên Hồng  Minh được phép đi Việt nam buôn thuốc bắc, một tấm giấy nhỏ ghi địa chỉ nhà tổ tiên tên Hợp ỏ châu Chi lăng. Sau khi cất nhưng giấy tờ đó vào một túi nhỏ, ngài cử em trai nép vào mô đá hướng mũi súng kíp vào trong miệng hang tối om cảnh giới, ngài sai hai người tâm phúc đào huyệt chôn cất cẩn thận từng chiếc xác xấu số thành 4 nấm mồ có hòn đá khắc tên họ đàng hoàng, mộ của 2 bộ xương thì ngai chỉ  đề là“ người nhà của tên Nông văn Hợp, Châu Chi lăng“ ngài còn khấn vái và thắp hương đầy đủ. Dụng ý của quan châu là làm việc thiện cho kẻ xấu số mong họ phù hộ cho việc làm sắp đến của ngài.
  Xong việc phải làm với các xác chết, quan tập hợp cả 3 người lại, bảo họ lấy súc vải còn mới ra rồi xé thành từng dải rộng bằng gang tay. Tất cả mọi người đều quấn chặt vải quanh người từ bàn chân bàn tay đến mặt mũi, chỉ chừa 2 con mắt. Khi đã chuẩn bị cẩn thận xong, quan châu đốt đuốc, tay lăm lăm súng, dẫn thuộc hạ tiến vào hang thần.
Vào được một quảng, trước mắt đoàn người là một hòn đá chắn ngay lối đi, nhìn qua hòn đá này trông như hìng một ông sư đang ngồi thiền, nhớ đến bài viết trên tờ giấy, quan châu bắt đầu thực thi theo: từ hòn đá ngài bắt đầu đếm số bước chân, chưa được 70 bước cả đoàn kinh hãi đứng lại vì vấp phải 1 xác chết. Đó là một thanh niên tuổi chừng 25, vận quần áo Trung hoa, đi giày vải, buộc dây vải quanh bụng, hắn chết gục xuống với tư thế rất kì lạ, đầu hướng về phía của hang, trên bộ mặt tím xanh hai con mắt trợn trừng như muốn bật cả con ngươi ra ngoài. Chỉ vài bước chân nữa, họ đi vào một chỗ phình rộng ra của hang đá, ánh đuốc bập bùng soi vào một cảnh tượng còn  khủng khiếp hơn khiến quan châu cũng phải đứng lặng đi vì thương cảm. Xác một người trung niên hai tay ôm lấy một tảng đá lớn, thân co rúm lại vì cố gắng bò đi khi chất kịch độc ngấm vào gan phổi, chắc hắn tì người vào tảng đá cho đỡ đau, hai người kia thì chết chồng lên nhau, có vẻ như người trai trẻ cố cõng người già hơn chạy trốn cái chết, nhưng không kịp thoát thân thì chất độc lầm cả hai đổ gục xuống, miệng há hốc, mắt trắng dã.Tất cả cá thây ma đều tím tái dưới tác dụng độc dựơc hiểm ác của tên thầy Địa lí đồng hương Trung hoa của họ. Trong góc xa của hang còn có hai đống xương người trắng toát, hình như chúng bị bọn vừa chết hất gọn vào một chỗ để lấy lối hành động. Trên vách hang bên phải cao tầm hai cánh tay là một chổ trống hoác do bị bào bới, đập phá. Quan châu nghĩ thầm:
-         Chúng nó cũng đã mày mò tìm được lối vào nơi giấu của, nhưng không kịp vào trong thì bị nhiễm độc chết hết. Ta phải xem kĩ chất độc có ở đâu mới được !
 Giờ đây ngài mới thấy khắp nền hang vung vãi những hòn sỏi to bằng ngón tay, khi có ánh đuốc dọi vào thì chúng lấp lấnh ánh sáng li ti. Quan châu vội quát bảo những người đi theo:
-         Chúng mày liệu mà đứng nguyên một chỗ, không được chạm vào các hòn cuội trên nền hang !
Ngài cúi xuống xem kĩ một hòn đá gần nhất rồi à lên một tiếng:
-         Lão già ghê quá !
Thì ra lão thầy Địa lí cho rải la liệt các hòn sỏi chứa khí độc lẫn trong các hòn sỏi bình thường khác trên nền hang và khi bịt lối vào ngách hang chôn của, xây cao đến đâu hắn lại chất đầy vào bên trong thứ đá độc này, chỉ cần sơ ý phá vách đổ xuống, lập tức các hòn cuội đổ tràn ra, chỉ cần vỡ một hòn sỏi làm phát tán ra khí độc thì mọi người ngửi phải liền bị nhiễm độc ngạt tgở mà chết. Quan châu quay sang em trai:
-         Chú đứng né sang một bên, nhưng hết sức cẩn thận đấy !
-         Dạ em biết. Người em làm theo lời anh.
-         Đựơc rồi ! bây giờ chú cầm đuốc soi cho 2 người kia làm việc.
Theo sự hướng dẫn của quan châu, hai người đàn ông thận trọng nhặt hết những viên sỏi trên mặt nền hang cho vào trong một cái vò nhỏ có lót lá chuối khô một người khẽ khàng mỡ nắp cho vào rồi nhanh chóng đóng nút kín lại sau một viên sỏi,  những xác chết thì họ mang ra ngoài cửa hang cho quan châu xem xét, càng đến gần miệng nghách bị phá đổ số lượng đá càng nhiều nên họ phải làm việc vất vả hơn. Trong khi lục túi cá xác chết, quan châu  thu được thẻ căn cước của từng người, tỏ rõ họ là người Hoa cùng quê với tên Cao hồng Minh chết ngoài cửa hang. Trong mình của lão già nhất, quan châu tìm đựoc một tờ giấy cam kết việc theo dõi tên Hồng Minh từ khi bắt đầu hắn sang Việt nam, rồi đếnviệc bắt trói tra khảo thu được tờ giấy có câu thần chú, sau đó chúng đồng tình giết chết tên họ Cao. Cho rằng đã cầm chắc kho của, nên trước khi vào lấy của chúng thề nguyện gắn bó không phản bội lẫn nhau, sợ rằng một kẻ nào đó trong bọn chúng nổi lòng tham mà phản bội đồng bọn. Căn cứ vào những chữ kí bằng máu của bọn chúng, quan châu biết rằng đây là một băng cướp nổi tiếng táo tợn bên Trung quốc. Không ngờ trời phạt chúng đền tội bằng cái chết tàn khốc ở đất Việt nam này.
 Quan châu trở vào hang khi các gia nhân đã dọn kĩ các hòn đá chết ngừoi trên nên đất ẩm. Ngài quyết định tiến vào ngách phụ của hang. Khi vào được bên trong họ lại gặp 3 bộ xương người đã gần mục nằm rải rác, Quan châu giải thích cho mọi người đó là nhũng ngươi xây dựng và chuyển của cải vào hang, xong việc họ liền bị tên thầy Địa lí đầu độc chết để bịt miệng, xác họ bị giấu luôn trong này.
Vào tận trong ngách quan châu trông thấy một cái bệ xây bằng gạch, trên bệ là một bộ xưong trắng hai tay bị xích sắt sang hai bên theo tư thế chết ngồi, miêng bị chằng chặt lại bằng một miếng da thắt ra sau gáy, nhìn kĩ thì quan châu biết đây là xương của một người con gái vì còn có mớ tóc dài rủ xuống thành một đống.
-         Cái bọn Tàu này thật dã man.
Quan châu giải thích vắn tắt cho 3 người đi theo:
-         Khi giấu của, người Tàu thưong tìm một người con gái còn trinh giả vờ cưới xin đàng hoàng rồi chúng bí mật đưa vào hầm của, xiềng ngồi trên nắp hòm của, miệng bắt ngậm sâm rồi bị chôn sống luôn  làm thần giữ của cho chúng. Đây chính là một nạn nhân Thần giữ của của tên Thầy Địa lí.
 Giờ khắc quyết định đã đến, quan châu lấy cớ là phải tự mình đỡ bộ xương người con gái xấu số xuông khỏi bệ gạch, ngài bảo hai tên gia nhân đứng sang góc xa trong cùng, thực chất là ngài không muốn để họ thấy số của cải trong bệ gạch.
Sau khi dọn hết bộ xương chết ngồi sang một bên, quan châu dùng cuốc đạp vỡ một góc bệ gạch làm lộ ra những chiếc hộp bằng gỗ, lần luợt mở hé xem, rồi đóng lại ngay, trong khi đó theo bàn trước, em trai của quan châu kín đáo theo dõi hai người gia nhân. Tuy nhiên hai người đó không tỏ ra quá sốt sắng với của cải vì họ rất biết thân phận của họ.
Cho hết các hộp vàng bạc châu báu vào các túi vải mang theo, bốn người quay trở ra cửa hang chôn xác 4 tên cướp chu đáo như đối với hai tên trước.
 Thời gian sau quan châu cho người lên hang Ca biên xây kín những hòn đá chết người lại. Những người đi theo quan vào hang được quan chia cho vàng bạc đủ cho chúng im lặng không nói với ai câu chuyện họ chứng kiến, chỉ có một lần khi quan châu đã trở về dưới xuôi và trở thành quan to vì có tiền biếu xén tận trong triều đình, một người trong họ mới kể lại cho con cháu nghe và rồi trong đám người làm của quan châu mới về ai cũng biết câu chuyện rùng rợn này. Còn tên Văn Mén nghe đâu quá hoảng loạn mà hoá điên đi lang thang  rồi chết đâu đó không ai biết được.
Núi Ca Biên từ đó không còn thiêng như trước, nhưng cũng không ai dại  mò đến cái chốn chết chóc đó làm gì và ở đó vẫn hoang vu lạnh lẽo, kì bí cho đến ngày nay.
Ông lão kể xong câu chuyện li kì xong thì đêm cũng đã khuya. Hai anh em chào hai ông bà rồi lăng lẽ quay về ngôi nhà sàn của ông trưởng bản. Chính trị viên phó Văn đang ngồi đọc tài liệu quân huấn bên bếp lửa giưa nhà. Mình nói với anh về nội dung chúng mình đã trò chuyện bên nhà ông bà già. Anh ấy cứ xuýt xoa tiếc vì không được nghe câu chuyện hấp dẫn như vậy.Thôi buồn ngủ quá, mình đi ngủ đây.
Ngày 8 tháng 11 năm 1948.
Trở về đơn vị, tiếp tục tập luyện trên thao trường. Mình được giao nhiệm vụ tiểu đội phó tiểu đội 4, anh Hương là tiểu đội trưởng. Vì hai anh em quen biết nhau từ hồi mới nhập ngũ nên rất dễ làm việc với nhau. Súng ống không có nhiều, chỉ vài khẩu Mutcoton nên anh em chia nhau tập tháo lắp, tập bắn. Khi nào được giữ súng cả ngày là oách lắm rồi. Tập chiến thuật phòng ngự cấp Đại Đội, nằm trong chiến hào giữa trời lạnh kể cũng khổ thật, nhưng chưa bằng nằm rừng vào ban đêm chân tay cóng hết, về đến doanh trại là cứ ngay đơ ra, hơ lửa mãi mới trở lai bình thường. Rét Viêt bắc ghê quá, sương giá làm chết từng vạt  chuối rừng.
 Suy nghĩ về câu chuyện nghe được trong bản Pú oẳn, mình cho rằng đã lần được manh mối về tên Cao biền. Trong câu thần chú còn 4 câu cuối không được cắt nghĩa có thể là chìa khoá để đi đến nơi hắn cất giấu tài liệu khác mà người thường không quan tâm đến.
                                    Của ôm lấy hết
                                  Địa ngục vẫn còn
                                  Bó buộc định mệnh
                                  Khổ nhục ngàn năm
Dưới chỗ giấu của chắc là còn một ngăn nữa, và đó là cái mình cần tìm. Làm cách nào mà đến đó để xem sao. Đi một mình thì không được, vừa nguy hiểm vùa không được phép, rủ anh Hương hay rủ anh Văn ? phải tìm cách nói với các anh ấy như thế nào đây ? Cẩn thận,  phạm vào quan điểm giai cấp là chết đấy !
Ngày 3 tháng 12 năm 1948.
 Hôm nay mình kể cho anh Văn nghe truyền thuyết Cao biền, trong lúc giải lao ở thao trường. Anh ấy rất thú vị vì nghe bảo đất Thanh hoá quê anh ấy có tướng quí phát đế vương, nhung anh Văn lại nhắc nhở đùng tin mê tín dị đoan. Bộ đội Cụ Hồ không được duy tâm. Nghe vậy mình tạm né tránh tìm cách khác.
  Tin vợ đẻ con trai làm mình vui quá, mình làm ba rồi, không biết bao giờ mới được bế thằng cu tí của mình đây. Thương vợ quá, một mình sinh đẻ, rồi nuôi con, may mà có bà ngoại giúp không thì nguy. Mong sao kháng chiến chóng thắng lợi.
       Ngày 17 tháng 1 năm 1949.
      Đơn vị sắp phải hành quân lên hướng Cao bằng. Xa nơi này tức là xa nơi có khả năng tìm được mật đồ Cao biền. Không biết sẽ chuyển quân trước Tết hay sau Tết ? Nếu sau Tết thì cơ hội nghỉ đón xuân vài ngày mình có thể đi được. Nhưng đi với ai, thật nan giải.
         Ngày 20 tháng 1 năm1949.
         Thế là rõ rồi, ăn Tết xong là lập tức hành quân. Tết được nghỉ tự do một ngày đi vào các bản chúc Tết, mình sẽ xin được vào bản Pú oẳn thăm nhân dân trong đó. Anh Văn bận lên Trung đoàn tập huấn, anh Hương đi nhận nhiêm vụ mới, mình tạm làm tiểu đội trưởng. Đành phải đi một mình vậy, biết là nguy hiểm nhưng cơ hội không còn nữa.
 Không biết ở Hà tĩnh gia đình mình chuẩn bị Tết nhất như thế nào. Trong Huế ba có được khoẻ không ? mấy đứa em chắc lớn lắm ? lại nghe tin vua Bảo đại rục rịch trở về lập chính phủ bù nhìn, bậy thật! gần Tết nhớ mẹ nó quá, cu tí của Ba chắc đã biết lật. Bao giờ thì được gặp vợ con đây. Kháng chiến nhất định thắng lợi !
Ngày mồng một Tết 1949.
 Hôm qua, Chính trị viên đại đội Minh rất vui khi mình xin phép dẫn 2 chiến sĩ trong tiểu đội 4 vào thăm và chúc Tết bà con người Mường trong bản Pú oẳn. Hai cậu Trung và Dần đều rẩt háo hức khi nghe mình thông báo về chuyến đi. Họ cũng đều nhập ngũ cùng với mình trong Hà tĩnh, cả hai đều là thanh niên nông dân chất phác và không biết chữ. Trong thời gian hành quân ra bắc, mình đã dạy cho họ học chữ, mặc dù các cậu này học hành như đi đấu vật, rất vất vả nhưng rồi cũng biết đọc, biết viết đôi chút. Cả hai mừng lắm và lúc nào cũng trọng vọng  gọi mình là thầy giáo, làm mình cũng vui lây.
 Ba anh em quyết định lên đường từ lúc chưa sáng tỏ mặt người. Do mình đã biết đường nên chỉ sau 2 giờ lội rừng là chúng mình đã đến được đầu dốc đổ vào bản Pú oẳn. Nói chung, khung cảnh của bản không có gì mới lạ, chỉ trừ trên đám đất trống đầu bản có dựng một cây tre cao, trên ngọn  cây có buộc những dải vải ngũ sắc tung bay phấp phới theo làn gió xuân.
Tin có Bộ đội Bác Hồ về ăn Tết cùng nhân dân truyền đi rất nhanh. Loáng một cái là chúng mình bị bao chặt bởi đám đông sặc sỡ áo quần diện Tết của Người Mường. Ai cũng chào hỏi chèo kéo chúng mình về nhà họ trước. Mình đành phân công Trung và Dần đi về hai nhà gần nhất, còn mình thì phải đến nhà ông Trưởng bản trước đã. Khi mặt trời đã sưởi ấm không khí, mây mù tan dần, dân của cả Bản Pú oẳn và cả những bản lân cận tập trung vui chơi ở khoảng đất trống có dựng cây tre cao ở đầu bản. Mình tranh thủ yêu cầu mọi người tạm dừng 1 chốc để đọc thư chúc Tết của Hồ Chủ Tịch gửi cho nhân dân cả nước nhân dịp đón Tết kháng chiến. Tất cả mọi người đồng thanh hô to:
-         Việt nam độc lập muôn năm ! Hồ chủ tịch muôn năm !
theo lời hô trước của mình. Tiếng hô đập vào vách núi đá, dội ngược ra vang vang, rất hào hùng.
 Mình thay mặt đơn vị Bộ đội đóng quân trên đất địa phương cám ơn đồng bào đã giúp đỡ lương thực và công sức  cho Bộ đội Bác Hồ. Bộ đội xin thề đánh tan quân Pháp giành lại hoà bình cho Việt nam. Kháng chiến nhất định thắng lợi !
 Sau bài nói ngắn gọn đó, mình tuyên bố chia tay bà con để 3 anh em tiếp tục lên đường đến những bản khác để đọc thư chúc Tết của Bác Hồ. Bà con lưu luyến vẫy tay theo chúng mình.
Theo lời kể trong câu chuyện của ông Lão người Mường, mình dẫn hai chiến sỉ Trung và Dần lần theo dãy núi đá Cai kinh đi mãi. Trời bắt đầu nhạt nắng thì mình nhìn thấy một thung lũng có quang cảnh như mô tả, chỉ có điều là trước núi đá Ca biên có một bản nhỏ của người Dao nằm cách núi một cánh rừng già và một con suối khá lớn. Mình thấy ngay rằng, như vậy sẽ thuận tiện cho công việc vào hang Ca biên hơn.
 Dẫn hai chiến sĩ vào bản, mình bắt chước những gì mà Chính trị viên phó Văn đã làm hôm đến bản Pú oẳn. Nghĩa là, cũng báo cáo trưởng bản, chia nhau đi thăm nom chúc Tết các nhà. Buổi tối mình cũng tập họp cả bản đến nhà trưởng bản đọc thư chúc Tết của Bác Hồ, cũng nói về cách mang xã hội, lí tưởng Công sản, tuyên truyền về cuộc kháng chiến nhất định thắng lợi… rất bài bản và hùng hồn. Hai cậu Trung và Dần phục mình lắm, làm mình cũng thấy khoái một tí. Dân bản chắc chẳng hiểu gì nhiều, nhưng cũng chẳng sao, sau này sẽ hiểu dần.
Trước khi đi ngủ, mình tranh thủ  kéo hai chiến sĩ tiếp tục uống rượu để hỏi dò ông trưởng bản về núi Ca biên, ông ấy cho biết hòn núi đó trước đây linh thiêng, nhưng bây giờ thì cũng không đáng sợ lắm. Nhưng việc hang đá có ma thì nhân dân khẳng đinh là thật, và chưa ai dám bén mảng vào trong đó cả, người bạo dạn nhất cũng chỉ đến cửa hang quan sát rồi tháo lui thôi. Ông khẳng định là đúng trên đó có mấy nấm mộ nhưng cũng không còn rõ dấu vết. Mình giả vờ phản kháng:
-         Không có ma đâu, bộ đội cách mạng không sợ ma !
-         Có ma thật mà, chúng tôi sợ nó lắm mà.
Ông trưởng bản cứ giải thích mãi cho mình và hai cậu Trung, Dần.
Thấy đã đủ liều luợng háo hức cho hai cậu cùng đi, mình nói:
-         Thôi được,  góp phần xoá bỏ mê tín dị đoan cũng là nhiệm vụ của Bộ đội Cụ Hồ. Ngày mai tôi và hai đồng chí Trung và Dần sẽ lên hang Ca biên khảo sát xem sao, chúng ta có tinh thần cách mạng, chúng ta có vũ khí trong tay chúng ta phải đưa lại cho nhân dân sự yên tâm trong cuộc sống giữa chốn rừng sâu này. Hai cậu đi ngủ, mai lên đường thực hiện nhiệm vụ cách mạng.
Cả Trung và Dần đáp rắn rõi:
-         Rõ !
Cả ba anh em đã nằm yên chỗ bên bếp lửa nghi ngút khói. Mình rất hồi hộp vì không biết Mật đồ Cao Biền có phải được dấu trong hang đá này hay không ? liệu nó có còn hay là ai đó đã lấy mất rồi ? rồi mình ngủ thiếp đi trong trạng thái phân vân như vậy.
Ngày mồng 2 Tết 1949.
   Mặt trời đã lên khỏi rặng núi phía đông nhưng cũng chưa đủ làm ấm được không khí trong thung lũng Ca biên. Ba anh em quần áo nai nịt cẩn thận gọn gàng, mũ nan đội đầu, súng ống được kiểm  và lau chùi cẩn thận, mình phát cho hai cậu chiến sĩ thêm 2 cây dao đi rừng và 2 cây đèn pin quân dụng của lính Pháp, riêng mình thì giắt thêm một cây búa có 1 đầu nhọn kiểu dùng cho nhân viên địa chất. Những thứ này mình bí mật chuẩn bị từ cả tháng trước, khi có dịp về thị trấn Mẹt mua sách báo cho đơn vị.
Vượt qua được con suối, bọn mình bắt đầu phải dùng dao chặt cây mở đường. Cây cối chằng chịt, lá cây ẩm mốc đầy côn trùng. Mình luôn miệng trò chuyện đẻ hai cậu chiến sĩ đỡ ngại khó, đôi lúc cả ba còn cao hứng hát vang ca truyền thống của Đoàn vệ quốc quân, vui vẻ và tự tin.
Chỉ còn cách hang đá khoản nữa cây số, mình cho mọi người dừng lại và quán triệt tinh thần:
-         Tuy chúng ta không tin vào mê tín dị đoan, nhưng các chuyện lưu truyền kì bí thường là có cơ sở ở những hiện tượng tự nhiên, xã hội mà nhân dân chưa có đủ trình độ giải thích. Vì vậy chúng ta không thể chủ quan trước khi đi lên hang đá bí ẩn này, tôi qui đinh chúng ta sẽ hành quân theo chiến thuật tổ 3 người vừa đi vừa cảnh giới cho nhau về 4 hứớng, súng lên đạn sẵn sàng chiến đấu và nhất loạt phải tuân theo mệnh lệnh của tôi. Không được nổ súng khi tôi chưa hô bắn. Rõ chưa ?
-         Rõ ! cả hai chiến sĩ đáp lai rất rắn rõi.
Lên đến cửa hang, mình chỉ xem qua chứ không không có ý tìm những nấm mộ. Do lá rừng rơi rung lâu năm phủ kín, nên mình không nhìn thấy một dấu hiệu nào chứng tỏ chỗ nào có những hòn đá mà quan châu cho đặt trên các mộ làm dấu. Bỏ qua các chướng ngai cản trở, vẫn theo đội hình chiến đấu chúng mình nhất loạt bật đèn Pin tiến vào hang, khi đến ngang tảng đá hình ông sư ngồi thiền mình nhắc hai chiến sĩ không đước để bất cứ một vật gì chạm vào người nhất là các viên đá nằm trên mặt đất ẩm đầy phân dơi trong hang. Mình chỉ các con dơi xám đen đang bám trên vách đá chúi đầu xuống bảo hai cậu Trung và Dần không phải sợ khi bỗng nhiên chúng thả rơi xuống để bay lượn. Hai cậu này cũng khá lắm, mặt mũi chẳng nhưng không có chút sợ hãi nào mà lại có chút khinh mạn hiểm nguy, gan dạ lính tráng. Mình rất yên tâm. Qua khỏi tảng đá làm chuẩn, bọn mình đi vào nơi nền hang hơi dốc vào trong, đến được khoảng trống như trong lời kể của ông lão bản Pú oẳn thì chúng mình đi trên nền đất trống trơn không có một viên đá rời nào cả, chứng tỏ tên quan châu đã cho người dọn dẹp rất cẩn thận. Trong góc xa, cạnh ngách hang lớn dẫn sâu vào bên trong là một khối đá nhân tạo kết bằng xi măng các viên đá hộc lại, đó là nơi người xưa che chắn các viên đá có chứa độc dược, đúng như câu chuyện đã biết.
Chỉ cần soi đèn Pin, nhìn kĩ một tí là mình phát hiện ngay ra nơi ngách hang giấu của vì mặc dù người ta dùng xi măng trát kĩ, nhưng màu sắc của vách đá tự nhiên xanh nâu xung quanh làm rõ nét một khoảng trắng hơn của vôi vữa trộn xi măng nhân tạo. Cả hai cậu chiến sĩ cũng nhận thấy điều đó, nên Trung cất tiếng:
-         Anh Tự, nhìn kìa, có ai đó giấu cái gì trong ngách đá, nên xây che lại ở chỗ đó.
 Vừa nói cậu ta vừa tiến tới định sờ lên vách đá. Mình vội quát:
-         Trung, đứng lại ! Không được động tay vào, có chất độc đấy !
Cậu ta đứng lại ngạc nhiên:
-         Có chất độc ? vì sao anh biết ?
Biết là lỡ lời, mình giải thích:
-         Mình không biết chắc lắm, nhưng trong các chuyện mình đọc được thì thông thường những nơi đồn đại có ma thường thì người ta phát hiên ra đều có chất độc giết người của người xa xưa gài lại.
Tiến đến trước vách đá, mình bảo cả hai câu chiến sĩ lùi xa một khoảng cách an toàn và tâp trung rọi đèn vào chỗ vách màu trắng xi măng. Dùng búa gõ nhẹ, mình nhận thấy bức tường không mỏng như mình nghĩ. Đập búa với lực mạnh dần, mình bắt đầu thất vọng là không có khả năng phá vỡ nó bằng các dung cụ mà mình đã chuẩn bị và mang theo lúc này: mũi nhọn của chiếc búa chỉ để lại những vết vỡ nhỏ trên mặt xi măng trộn với mật mía. Biết cố gắng thêm chỉ vô ích, mình dùng đầu búa nhọn khắc lên thành hang dòng chữ:
                          Kháng chiến nhất định thắng lợi !
                 Lê Huy Tự, Nguyễn văn Trung, Trần đình Dần
                                           Xuân 1949
 Mình bảo hai cậu chiến sĩ chĩa súng vào phía hang sâu cùng với mình:
-         Chuẩn bị ! Bắn !
-         Đoàng !
Ba khẩu súng cùng gầm lên một tiếng đinh tai nhức óc, vì trong hang kín nên tiếng dội rất trầm và mạnh khiến tất cả lũ dơi ùa bay tuôn ra cửa hang, cánh dơi đập gió làm mát lạnh mặt anh em mình. Tự nhiên cả 3 anh em cùng kêu to:
-         Ô ! ô ! ô !
rồi cùng cười vang.
-         Từ bây giờ chắc không có ma quỉ nào dám quay lại trú ẩn trong hang này nữa đâu, anh Tự nhỉ !
 Cậu Dần vui vẻ thốt lên.
Chúng mình ra về thì gặp ông già Trưởng bản đang đứng chờ bên bờ suối :
-         Tôi nghe tiếng súng nổ trên hang, đã xảy ra việc gì vậy ?
-         Không có gì đâu bác ơi ! Chúng cháu bắn súng đuổi tà thôi mà !
-         Thế thì tốt ! Thôi cái Bộ đội về nhà tôi uống rượu !
-         Thôi bác ơi ! Chúng cháu phải về đơn vị ngay vì quá hạn dược phép rồi !
-         Thật tiếc quá ! Cái bộ đội khi nào có dip nghỉ thì lại vào bản Ca biên này nhé, chúng tôi mong lắm đó !
Mình thay mặt anh em cám ơn bà con trong bản và hứa  cùng nhau ra sức đánh Tây, sau chiến thắng sẽ về thăm lại nơi đây.
Ba anh em đi như chạy mong sao về đến đơn vị khi trời chưa tối.
Tròi nhập nhoạng tối thì chúng mình về đến khu rừng đóng quân. Bốn bề lặng như tờ làm mình chột dạ chạy vội về lán của tiểu đội, không có ai cả. Chạy đi các lán khác cũng không gặp một ai cả. Tất vả các nơi đều không có người, đồ đạc, giường chiếu,tư trang và súng ống đều không còn. Ba anh em ngồi sụp xuống, thở dài ngao ngán: Đơn vị đã chuyển quân đi nơi khác mất rồi.
 Chạy về lán tiểu đội 4 của mình với hy vọng anh em để lại thư chỉ đường, mình tìm thấy một mảnh giấy gấp 4 cài trên vách:
„ Gửi Tự, đơn vị nhân dược lệnh chuyển quân đột ngột, không thể chờ các cậu được. Các cậu gắng đuổi theo đơn vị theo hướng X. Phải khẩn trương lên. Hương
Quay lại với Trung và Dần mình thông báo tình hinh. Cả 3 quyết định lên đường ngay. Cứ đi, đói mệt chỗ nào thì nghỉ luôn chồ đó rồi hành quân tiếp. Đêm tối cũng phải đi, quyết đuổi kịp đơn vị để tham gia chiến đấu.
     Nhật kí của Ba Huy Đông cho biết quá trình tìm về đơn vị đầy gian nan, về những trận đánh quyết liệt trong chiến dịch biên giới của lực lựong bộ đội chủ lực ta đánh tan những đơn vị thiện chiền của Pháp. Nhật kí cho biết những người bạn, những đồng đội thân thiết của Tiểu đội trưởng Lê Huy Tự đã hi sinh anh dũng như thế nào. Phần ông Tự thì bị bênh thương hàn quật ngã phải đưa về tuyến sau, cộng thêm bênh dạ dày tái phát dữ dội, ông không có khả năng hồi phục được sức khoẻ. Biết rằng mình đã trở thành gánh nặng cho quân đội, ông Tự tình nguyện xin được ra quân, trở về với vợ con trong Hà tĩnh.
         Cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài 9 năm kết thúc bằng chiến thắng Điên Biên Phủ vang dội khắp năm châu bốn bể. Năm 1954 tại Geneve   (Thuỵ sĩ ) Chính phủ thực dân Pháp đại bại trên chiến trường không còn cách nào khác đành ngồi vào bàn chấp nhận kí kết hiệp định với  Đại diện của Nước Việt nam dân chủ cộng hoà, dưới sự hoà giải và chứng kiến của đai diên của một số nước trong đó có  Nước Công hoà nhân dân Trung hoa. Theo  hiệp định này, nước Pháp chấp nhân rút hết quân đội ra khỏi Đông dương , trả lại hoà bình độc lập cho Việt nam. Tuy nhiên, Việt nam lại chưa được thống nhất ngay mà còn phải bị chia thành 2 miền Nam và Bắc tại ranh giới là sông Bến hải, tỉnh Quang trị, tức ở chỗ Vĩ tuyến 17 đi qua miền trung Việt nam. Miền Bắc hoàn toàn thuộc về chính phủ của Nước Việt nam dân chủ cộng hoà với người đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh, bắt đầu tiến hành xây dựng xã hội Xã hội chủ nghĩa theo các nước Liên xô, Trung quốc và một số nước Đông Âu khác. Miền Nam tạm thời chịu sự giám sát của tổ chức quốc tế, tạm thời trung lập chờ Tổng tuyển cử hiệp thương dư đinh Tổ chức vào năm 1956. Đây là điều thua thiệt vô lí cho chính phủ Viêt nam dân chủ công hoà, nhiều lời giải thích được công bố, nhưng không làm thoả đáng  được câu hỏi: Tại sao đang có nhiều lợi thế trên chiến trường, lợi thế trong dư luận quốc tế, được sự ủng hộ của cả phe Cộng sản chủ nghĩa, lòng dân cả nước rất ủng hộ chính phủ Việt nam của chủ tịch Hồ chí Minh mà người ta chấp nhân kí một điều khoản hạn chế như vậy ?  Chỉ cần gắng một tí nữa thôi chúng ta sẽ tránh được một cuộc chiến kéo dài 20 năm sau vô cùng khốc liệt mãi đến mùa xuân năm 1975 Việt nam mới hoàn toàn thống nhất. Phải chăng Chủ tịch Hồ Chí Minh không hoàn toàn đủ bản lĩnh vượt qua sức ép của những thế lực mưu mô dùng Việt nam làm món vật thương thảo lẫn nhau vì mục đích hẹp hòi của quốc gia và dân tộc họ ? Phải chăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khôn ngoan suốt những năm tháng qua giờ lại ngây thơ tin vào một Thắng lợi không chắc chắn là Tổng tuyển cử nên chấp nhân thua thiệt để tránh chiến tranh tiếp tục ? Hay chính vị Chủ tịch kính yêu của Đảng công sản Viêt nam vốn hiểu biết Tử vi cũng chưa hoàn toàn tin tưởng vào sự trường thọ của phe Xã hội chủ nghĩa và cụ dùng Hiệp thương Tổng tuyển cử toàn dân như là một lựa chọn may rủi cho dân tộc Viêt nam ? Dù sao thì con Lạc cháu Rồng cũng đã phải trá giá và sẽ còn phải trả giá rất đắt cho việc chia cắt 2 miền Nam Bắc trong Hiệp định Lịch sử này. Hai mươi năm đủ cho một dân tộc xây dựng nên một cường quốc trong hoà bình, 20 năm là một đời người đủ thời gian hình thành cho mình một nhân cách tốt đẹp toàn diên để truyền lại cho con cháu mình chứ không chỉ đưa cho chúng một tấm huân chương ám khói đạn bom rồi quay sang công việc của một kẻ hết thời bất đắc chí, khi nhận ra rằng mảnh đất thân yêu của chúng ta hoá ra là bãi thải vũ khí của  những cường quốc sản xuất và làm giàu bằng đạn bom, tiền bạc vào túi rồi thì cái loại hàng hoá chết người này bỗng dưng thành phế thải chiếm diện tích trong kho, vậy cần thanh lí để tiến hành thương vụ mới. Chúng ta yêu Chủ nghĩa xã hội, yêu lí tưởng Cộng sản vì chúng ta yêu hoà bình, hạnh phúc, hà cớ gì ta lại bị buộc phải chọn con đường đấu tranh quyết liệt một mất một còn của chiến tranh, khi chúng ta thu được hoà bình thì tang tóc lại đổ lên đầu bao nhiêu gia đình thân quyến của cả bên này lẫn bên kia chiến tuyến, hoà bình như vây có thanh thản và trọn vẹn được chăng ?
 Cuộc đời của ông Tự được tái hiện trong những trang nhật kí. Những thành công nhỏ nhoi, hạnh phúc đơn sơ và niềm vui đạm bạc của ông suôt năm tháng cho ông nghị lực sống tiếp trong những lúc ông gần như tuyệt vọng vì bệnh tất và đối xử bất công. Chủ nghĩa lí lịch cứng nhắc đẩy ông thành kẻ thù địch ngay cả trong gia đình ông, ai có khả năng chọn bố mẹ và thành phần xuất thân của mình ?, người nào là người tốt khi chính anh ta chối bỏ gốc tích của mình ? Ông cam chịu tất cả thiệt thòi, ông hi sinh tất cả nhu cầu bản thân để đánh ván bài cá cược lớn nhất, dài nhất của ông là những đứa con và tương lai tốt đẹp của chúng. Kết quả ván bài giờ đây mới manh nha trúng lớn thì ông đã trở thành thiên cổ cõi hư vô.
 Di chúc ông dành riêng cho Huy Đông là nguyện ước anh trở thành một nhà khoa học chân chính, bằng cấp đỗ đạt cao làm rạng danh dòng họ có truyền thống ham học từ lâu đời nay. Nhiệm vụ truyền đời mà ông không làm được giờ trao cho anh là một điều khiến ông rất day dứt, không an lòng. Ông mong anh tha thứ cho ông, vì trót sinh ra trong một dòng họ dại dột đứng ra nhận một việc làm gần như vô vọng, chẳng đưa lại lợi ích tiền bạc nào cả. Tuỳ anh định liệu, dưới suối vàng ông sẽ nhận hết trách nhiêm với tổ tiên mà xin chấm dứt lời thề nguyền.
  Đọc hết tập tài liệu của cha, Huy Đông ngồi thần ra bất động, hai mắt rưng rưng:
-         Ba ơi, con nguyện hết sức mình vì mong ước của Ba, xứng đáng với những hi sinh của Ba !
                                             Chương 6
                               Như dòng Hương Giang
                                 Tình yêu và sự nghiệp
    Từ đó người ta thấy một Huy Đông không còn thời gian cho những chơi bời vô bổ, tìm anh có việc gì chỉ cần vào các thư  viện là thấy ngay. Có nhiều cô gái thương chàng trai có chí, có tài và cũng khá đẹp trai ngõ lời muốn giúp anh trong sinh hoạt, nhưng dù ăn uống tạm bợ qua quít kiểu một nồi cơm cho hai ngày cơm nguội với muối rang, nhưng trái tim của Huy Đông chỉ dành cho những lả thư chứa chan yêu thương từ tận Paris xa xôi lặn lội trong dòng đời về với anh mỗi tuần. Hương Giang yêu anh với một tình yêu thuần khiết đầu đời, trong dòng sông tình yêu đó Huy Đông cảm tưởng mình đang bơi, bơi mãi đến thiên đường. Lá thư nhận được chiều nay khiến Huy Đông không kịp về  nhà trọ, bên cột đèn đường anh dừng xe đạp đứng đọc thư của Hương Giang mà quên cả đất trời đang ầm ào, inh ỏi còi xe.
  Anh ơi !
Paris rộng lớn ồn ào mà sao đối với em trống vắng quá. Sông Seine thơ mộng mà em thấy tẻ nhạt quá. Cuộc sống  ở đây hiên đại và đầy đủ nhưng đối với em thì lại thấy thiếu thốn quá. Em quá bất công với Paris phải không anh ? Anh biết vì sao không ? Tại anh đó, tại anh không có bên em lúc này, lúc mà trái tim em chỉ đập mãi hai từ: yêu anh.
 Ba bảo em, đừng nghĩ đến anh nhiều, để anh học. Trí tuệ em tự nhủ, ít yêu  anh thôi, để anh đỡ nao lòng. Nhưng tâm hồn con gái của em lại luôn lôi hình bóng anh đến bên em mà thương nhớ dâng trào.
 Có lẽ em yêu anh nhiều vì ở anh em dành cho một tình yêu gấp đôi, tình yêu của một người con gái dành cho một người con trai trộn vào tình yêu của một người con xa xứ dành cho quê hương cội nguồn. Anh ơi! Anh thích để như vậy hay muốn tách ra rõ ràng, phân minh ? Chắc em không chịu được sự tách bạch đâu anh ạ. Hương Giang anh yêu là rứa đó, đừng giận nghe anh.
Em sẽ về bên anh, khi em học xong. Quê hương mình còn khổ còn nghèo, nhưng ở đó bên anh em có tất cả. Con người bên nhà còn lạc hậu, bon chen, nhưng em  sẽ chịu được, vì sống thiếu anh còn khó hơn nhiều. Với lại em biết chắc rằng không bao giờ anh chịu làm kẻ lưu vong, thì sao em muốn có anh và yêu anh vô cùng lại bắt anh phải vây, chờ em nghe anh !
Không cần phải nghe anh nói, mà có khi nào anh của em chịu nói sự thật về những thiếu thốn mà anh đang chịu đâu, em cũng biết dạo này anh gầy đến chừng nào. Đừng ốm nghe anh, em đau lòng lắm đó. Đừng từ chối những gì em gửi về, chăm sóc sức khoẻ cho bản thân mình chính là vun trồng cho tình yêu của chúng mình mãi thêm hạnh phúc, cả em và anh đều làm như vậy nhé.
Hương Giang của anh chỉ viết cho anh những câu mà trái tim non nớt của em buông ra một cách vụng về, thiếu mạch lạc. Anh cố đọc rồi xếp nó vào trong tim anh, liệu có đủ chỗ không anh ? Em đùa vậy thôi, chứ em biết tình yêu của anh đối với em rộng lớn, thẳm sâu lắm mà, nhưng em không chịu chết chìm trong đó đâu vì em muốn vòng tay ôm cả trái tim anh bay vào hạnh phúc.
 Nếu Ba cho phép, vì dạo này ba mẹ em yếu hơn trước nhiều, thì hè nay em sẽ về bên anh.
                                          Hương Giang của anh

   Với một tình yêu như vậy ai mà chẳng thấy hạnh phúc và trách nhiệm. Hương Giang đưa lại cho Huy Đông sức mạnh, trí thông minh đi đến thành công. Không ai giàu hơn mình như lúc này, khi anh được một tình yêu trong sáng vô giá từ một người con gái anh cũng yêu hết mình. Ý nghĩ đó khiến anh như một kẻ giàu có nhìn đoàn người hối hả, bươn chải trên đường với lòng thương cảm xót xa.
   Năm 1992 Huy Đông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Lịch sử chuyên ngành Dân tộc học Việt nam. Anh được phép đi sang Paris để nâng cao kiến thức chuyên sâu, nhất là được vào trong các thư viên Pháp đọc các tài liệu lưu trữ về Viêt nam thông qua các báo cáo của Hệ thống Cai trị thực dân gửi về cho chính phủ Mẫu quốc, các bản viết của những công dân Pháp làm việc ở Viêt nam trong suốt 80 năm, ghi chép về các lãnh vực của Đông dương. Một buổi chiều, trong một quán ăn cổ bên bờ sông Seine, nhìn sang nhà thờ Đức bà, anh chính thức cầu hôn với Hương Giang. Tuy chỉ là hình thức vì hai người đã nguyện ước với nhau từ lâu rồi, nhưng hạnh phúc vẫn ngập tràn khuôn mặt xinh đẹp của  cô gái khi anh lồng vào ngón tay nhỏ nhắn của cô chiếc nhẫn đính hôn có đính  hạt kim cương bé xíu. Dắt tay nhau họ đi dọc bờ sông gắn đầy các quầy bán sách báo cũ, tình yêu nở bừng viên mãn trên khuôn mặt hai người dưới nắng chiều còn sót lại vài hạt trên kinh thành hoa lệ.
Theo ý muốn của hai vợ chồng ông Kim, đám cưới của đôi uyên ương được tổ chức ở Paris. Sau đám cưới một thời gian, Hương Giang chính thức theo chồng về cư trú ở Viêt nam. Cô xin được làm việc tai bệnh viện Huế và trở thành một nữ bác sĩ đầy tài năng tham gia giảng dạy cho sinh viên Học viên y Huế. Hàng năm họ sang Paris thăm ông bà Kim cùng với cậu con trai đầu lòng. Hạnh phúc lúc nào cũng tràn đầy trong gia đình họ.
Thời kì này, như ông Kim đã dự đoán, hệ thống Xã hội chủ nghĩa do không bắt nhịp kịp sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kĩ thuật, yếu kém về kinh tế, xã hội, bị sụp đổ không cứu vãn được. Chiến tranh lạnh chấm dứt, xu thế toàn cầu hoá trỏ thành tiêu chí đánh giá tiềm năng phát triển của các quốc gia.
Viêt nam đang trong thời kì mở cửa và đổi mới, bước đầu gặt hái được nhiều thành công, cuộc sống nhân dân đã khá hơn rất nhiều, nhiều khái niệm cấm kị dần trở nên cởi mở hơn, kinh tế thị trường đang trở thành đông lực cho sự phát triển của nền kinh tế vừa cựa mình thoát ra xiềng xích bao cấp xơ cứng.
Với cái nhìn khả quan về khả năng con Rồng Việt cưạ mình tỉnh giấc, Huy Đông cũng ít quan tâm đến nhiệm vụ truy tìm Mật Đồ Cao Biền, anh dồn tâm sức tìm cách xoay chuyển lại cách nhìn của các đồng nghiệp của mình về các Chúa Nguyễn và các Vua Nguyễn một cách khách quan hơn, thoát dần khỏi cách thẩm định của các sử gia chỉ thích Tây sơn, theo kiểu đơn giản hoá: Đã khởi nghĩa là của nông dân, là chính nghĩa. Đã Vua chúa là thối nát, ngu xuẩn hại dân. Đã gián điệp là phải đeo kính đen, đội mũ phớt. Đã bác học là phải hói trán, đeo kính trắng. Vui quá vậy.
Với một hậu tướng tuyệt vời như Hưong Giang, sự nghiệp của Huy Đông gặt hái thành công thật dễ dàng, Huy Đông được bầu là Phó Giáo sư Sử học. Hè năm đó, gia đình anh với nhân khẩu 5 người bay sang Paris thăm ông bà ngoại.
                                             Chương 7
                                            Thăng long
                                    Long mạch và La thành
 Một buổi sáng, trái với lệ thường,  là hai ba con chỉ uống Cafe và điểm tâm ở trong khu vườn bày các loại cây cảnh của mình, Ông Kim bảo con rể chở mình đến quận 13 vào một quán Việt nam cuối đường  Ivery. Chưa ngồi ấm chỗ, thì từ ngoài cửa đi vào một thanh niên khá đẹp trai, vai khoác một chiếc túi nặng. Cậu ta tiến thẳng về phía hai Ba Con dáng điệu rất tự nhiên:
-         Cháu chào Ông ! Cháu chào chú ! Cháu đến hơi muộn, ông và chú chờ cháu lâu chưa.
-         Chào cháu ! Hai Ba con tôi cũng vừa tới. Ngồi xuống đi cháu. Giới thiệu với cháu, đây là con rể của ông, giáo sư Huy Đông từ Việt nam sang thăm ông.
Còn cháu đây là Nguyễn Hoàng Tân, đang theo học chương trình  tiến sĩ Vật lí tại Đại học Paris. Cháu uống gì thì tự gọi nhé.
Huy Đông nhìn ông Kim có ý dò hỏi, nhưng ông già tủm tỉm cười không nói gì thêm.
-          Hai người đã có kế hoạch gì đây -  Huy Đông tự nghĩ, đã biết tính của Ba vợ nên ông không lấy làm áy náy.
Khi chàng trai đã yên vị, ông Kim quay sang con rể:
-          Con ở Việt nam có nghe gì về Trận đồ trấn yểm trên sông Tô lịch không ?
-         Dạ thưa Ba có ạ ! Nhưng cũng không có gì đặc biệt đâu Ba.
-         Con kể Ba nghe xem nào !
-         Dạ, được ạ !
Huy Đông bắt đầu câu chuyện với những thông tin anh nhận được từ nhiều nguồn khác nhau:
 Ngày 27 tháng 9 năm 2001 đội thi công số 12, thuộc Công ty xây dựng VIC, trong khi tiến hành theo kế hoach nạo vét sông Tô lịch, đoạn thuộc địa phận làng An phú, phường Nghĩa đô, quận Cầu giấy, Hà nội, đã phát hiện được di vật cổ lạ dưới lòng sông. Đó là các cây gỗ được chôn đứng giữa lòng sông Tô lịch, các cây gỗ được đóng theo một thứ tự  có chủ ý nào đó, tại đó trong đất đá được máy xúc lên người ta phát hiên có lẫn các hài cốt của người giữa các cọc gỗ đó. Ngoài ra, người ta còn moi lên được nhiều mảnh sành, một số đồ Gốm, xương động vật có lẽ là Ngựa, dao và tiền bằng đồng loại thời xưa.
 Sau khi cho máy xúc rút được 2 cọc gỗ lên thì  chiếc máy xúc đang làm việc bỗng nhiên  bị lún trượt một bên và tụt nhào xuống sông. Nước ngăn bị vỡ tràn vào chỗ đang thi công, không chặn lại được. Công việc chuẩn bị cho công trình rối tung lên. Địa tầng của khu vực thi công bị biến đổi không theo như đã khảo sát trước thi công, làm khó khăn cho công việc hơn dự tính.
Như Ba đã biết rồi đó, ở Việt nam bây giờ người dân trở nên tin tưởng vào các yếu tố tâm linh hơn trước đây. Có lẽ theo qui luật con lắc, trải qua một thời kì duy vật, vô thần một cách cực đoan, thì giờ đây con người lại chuyển về thái cực bên kia của niềm tin siêu hình với một biên độ tương ứng . Trước một hiên tượng khác thường lại dính dáng đến xương người, mà lại đào đựoc ngẫu nhiên , đột ngột, nhiều người hoảng hốt, sợ sêt là hiên tượng tâm lí bình thường. Trạng thái tâm lí đó được nhân lên nhiều lần khi bên bờ của công trường lại có một ngôi đền gọi là đền Quán Đôi. Theo con thì tâm lí hoảng sợ là nguyên nhân đã làm cho những người công nhân đang trực tiếp làm việc để  xảy ra sai sót và sự cố. Cứ như chúng con thường xuyên khai quật nghiên cứu khảo cổ các ngôi mộ hoặc xác ướp thì chẳng có tâm lí như vậy nên không bao giờ xảy ra điều gì trong hoàn cảnh  có khi còn rùng rợn hơn.
 Ngày 9 tháng 10 năm 2001,vì sợ sệt và xót tiền, chủ thầu công trinh tức đội trưởng đội thi công số 12, đã mời một thầy theo đạo Từ Phủ đến quan sát thì được thầy nhận định, đây là một đạo bùa Bát quái trân đồ được chôn yểm lâu đời để trấn chặn long mạch của khu vực này.
Tuy nhiên, các nhà khảo cổ học và những đồng nghiệp nghiên cứu lịch sử có chuyên môn cao của con, sau khi trực tiếp đến hiên trường đã có nhiều ý kiến xác đáng. Cụ thể là vào  ngày 22 tháng 12 năm 2001 Bảo tàng Hà nội đã mời các nhà khoa học và những người có chức năng quản lí cổ vật tổ chức một cuộc Hội thảo ngay trên bờ sông tại công trường nơi xảy ra sự việc.
Nhận định của các nhà khoa học cho rằng, khúc sông xảy ra sự cố là nơi hợp lưu của 2 con sông Tô lịch và Nhuệ giang vốn trước đây lâu đời là những con sông lớn bao quanh Thành Đại la, gốc tích của Hà nội ngày nay. Vây nên lòng sông đựoc bồi tụ lâu ngày thì hiển nhiên có chứa nhiều cổ vật thâm chí xương người chết vì nhiều lí do khác nhau là điều bình thường, bờ sông vốn là đất tạm do bồi tụ bùn đất có thành phần không đồng nhất thì chuyện lún dệ và khó thi công là chắc chắn.Người thiết kế và người thi công vì một lí do nào đó không tính đến đặc điêm lịch sử của cấu trúc địa tầng ở đây khi gặp sự bất ngờ, cộng thêm tâm lí hoảng loạn do sợ sệt tâm linh nên không hoàn thành được công trình theo tiến độ dự định là không tránh khỏi. Chỉ cần thay đổi kĩ thuật thi công khác thích hợp thì sẽ làm đựoc thôi và thực tế là sau đó người ta đã hoàn thành công trình bằng cách thay đổi kĩ thuật thi công.
Ông Kim hỏi tiếp:
-         Thế về các cọc gỗ đóng trong lòng sông thì con nghĩ thế nào ?
-         Con không trực tiếp xem xét các cọc gỗ nên con không biết được nó được đóng dưới lòng sông hay không, hình thức bố trí của chúng ra sao, cụ thể là bao nhiêu cọc và niên đại của  các cây gỗ là lúc nào, nên không thể xác định được mục đích và tác dụng của các cây gỗ phát hiện được ở đấy. Hiện trường ngay khi xảy ra sự cố, có lẽ ban đầu do sợ phiền toái ảnh hưởng đến tiến độ thi công nên đội trưởng công trình không báo cáo với cơ quan chức năng mà tự ý xử lí để làm tiếp, đã bị xáo trộn. Chúng con không thể đánh giá chính xác được nữa. Cũng không loại trừ các cọc gỗ này cũng chính là một biên pháp nhằm nắn dòng chảy cho con sông vì một mục đích nào đó từ xa xưa.
-         Thế có ý kiến cho rằng, đây là nơi người xưa bày thế trận trấn yểm che chở cho Thành Đại la về hướng Tây thì con nghĩ thế nào ?
-         Con cho rằng, à mà thôi, con biết ba cũng đã theo dõi nghiên cứu và có chủ kiến rồi, con xin Ba trình bày cho con nghe luôn.
Ông Kim ranh mãnh nhìn con rể:
-         Anh khôn vậy thì Ba cũng chịu anh vậy ! theo Ba thì chúng ta cùng thống nhất là không có yếu tố ma quỉ nào ở trong vấn đề này cả, cách suy nghĩ của con và đồng nghiệp của con, chúng ta có thể chấp nhận được. Nhưng chúng ta cần có cách nhìn rộng hơn theo nhiều khía cạnh hơn.
Trước hết là vị trí xảy ra sự việc, đó là nơi hợp lưu của 2 con sông như con đã nói, nhưng đó chính là khúc sông nằm ngay ngoài thành Đại la cũ, cụ thể là cổng Tây của nó. Vậy La thanh này đươc xây dưng khi nào ? ai xây dựng nó ? Khi xây dựng có những thuận lợi và khó khăn gì ? Người ta đã khắc phục khó khăn đó như thế nào ? quá trình lịch sử phát triển hay hưng phế của nó ra sao ? chúng ta thử điểm qua xem sao.
Theo Đại Việt sử kí toàn thư thì thành Đại La ban đầu do Trương Bá Nghi cho đắp từ năm Đại Lịch thứ 2 đời Đường Đại Tông (767), năm Trinh Nguyên thứ 7 đời Đường Đức Tông (791), Triệu Xương đắp thêm. Đến năm Nguyên Hòa thứ 3 đời Đường Hiến Tông (808), Trương Chu lại sửa đắp lại, năm Trường Khánh thứ 4 đời Đường Mục Tông (824), Lý Nguyên Gia dời phủ trị tới bên sông Tô Lịch, đắp một cái thành nhỏ, gọi là La Thành, sau đó Cao Biền cho đắp lại to lớn hơn. Theo sử cũ thì La Thành do Cao Biền cho đắp có chu vi 1.982,5 trượng (≈6,6 km); thành cao 2,6 trượng (≈8,67 m), chân thành rộng 2,5 trượng (≈8,33 m),  tường bốn mặt cao 5,5 thước (≈1,83 m), với 55 lầu vọng địch, 6 nơi úng môn, 3 hào nước, 34 đường đi. Ông còn cho đắp đê vòng quanh ngoài thành dài 2.125,8 trượng (≈7,09 km), đê cao 1,5 trượng (≈5,00 m), chân đê rộng 2 trượng (≈6,66 m) và làm hơn 400.000 gian nhà. Theo truyền thuyết, do thành xây đi xây lại vẫn bị sụt ở vùng sông Tô Lịch, Cao Biền đã cho trấn yểm tại đây để làm cho đất vững và chặn dòng long mạch của vùng đất này.
 Nhìn tổng thể của một người thông thạo Phong thuỷ thì Thành Đại la tức là thành phố Hà nội ngày nay nằm gần như ngay tại trung tâm của đồng bằng Bắc Việt, trên dải đất hẹp giữa con sông Hồng ở phía Ðông và sông Tô Lịch ở phía Tây. Ðối với Phong thủy, dải đất này chính là chân long, là nơi kết tụ được nhiều nguyên khí của địa hình sông, núi ở chung quanh. Nhờ vậy, Hà Nội sẽ luôn luôn nắm được những vai trò quan trọng về chính trị và kinh tế đối với đất nước, chẳng những thế, trong các thời kỳ hưng vượng còn sản sinh ra những lãnh tụ tài ba, những anh hùng kiệt xuất. Nếu nhìn lên bản đồ miền Bắc, ta sẽ thấy những con sông lớn như sông Cầu, sông Gầm, sông Lô ở phía Bắc; sông Ðà, ở phía Tây, sau khi chảy qua nhiều nơi cuối cùng đều nhập vào sông Nhị Hà chảy về Hà Nội. Xa xa, dọc theo biên giới Việt-Hoa, những dãy núi trùng trùng, điệp điệp xuất phát từ miền Nam Trung Hoa đâm thẳng xuống dọc theo các phía Tây Bắc, Bắc và Ðông Bắc, tất cả cũng đều như muốn hướng về. Ðây chính là thế "núi sông chầu phục" của Hà Nội, một địa thế Phong thủy tuyệt đẹp đến nỗi không một thủ đô nào của các nước trong vùng Ðông Nam Á Châu có thể so sánh được. Không những thế, ngoài xa nơi phía Ðông và Ðông Nam, Hà Nội còn được đại thủy của vịnh Bắc Việt và Thái Bình Dương chiếu tới nên thần lực rất lớn, xứng đáng là thủ đô muôn đời của một quốc gia văn hiến hùng mạnh.
Bây giờ ta xét sự việc dưới một góc độ khác qua các sự kiện Lịch sử và các truyền thuyết còn lưu lại trong dân gian.
        Tới đời vua Đường Y Tôn (841 -873 ), Cao Biền được cử sang đất Việt làm Tiết Độ sứ. Cao Biền là một con người đa hiệu: Vừa là một vị Tướng,vừa là một nhà Phù thủy, một Đạo sĩ, cũng là một nhà Phong thủy có tài. La Thành được Cao Biền sửa chữa, chỉnh đốn lại cho hợp Phong Thủy vào các năm : 866, 867, 868. Theo truyền thuyết, khi Cao Biền xây dựng lại thành Đại La, thì khu vực thi công có hiện tượng sụp lở đất. Cao Biền liền tiến hành chấn yểm Thần sông Tô lịch và một số điểm khác như đền thờ Thần Bạch mã, núi Tản Viên. Sau đó công viêc xây dựng mới có thể hoàn tất.
Tới đây, ta nhớ lại một truyền thuyết khác của dân tộc Việt nam. Đó là " Truyền thuyết Thành Cổ Loa " Tương truyền rằng khi xây dựng thành Cổ loa, An Dương Vương cũng xây mãi mà thành vẫn bị đổ. Khi đó Rùa Thần hiện ra chỉ cách cho xây và cho một cái móng chân, lúc đó thành Cổ loa mới có thể xây dựng xong".
Về mặt địa lý, La thành và Thành Cổ loa cách nhau không xa ( Theo đường chim  bay chỉ vài chục km ).
Tới đây, ta buộc phải tự đặt câu hỏi : Có sự trùng hợp giữa hiện tượng sụp đất của Thành Cổ loa, sự sụp đất của thành Đại la và sự sụp lở đất không thể khắc phục được trên công trình nạo vét sông Tô Lịch ?.
Qua hai truyền thuyết trên, bỏ qua các sự việc có tính chất dị đoan, chúng ta phải chấp nhận một sự thực là: Vùng đất từ đầu nguồn sông Tô Lịch kéo dài đến Cổ Loa - Đông Anh  là một vùng đất có địa tầng địa chất không ổn định. Ta cũng cần phải nhớ rằng : Núi Tản viên nằm ở hướng Tây Hà Nội. Mặt khác phía Tây và Tây Bắc của La Thành là một vùng núi non trùng điệp của các tỉnh Hoà bình, Sơn la ,Lai châu …Theo định nghĩa của môn Phong Thủy, Long Mạch xuất phát từ những rặng núi cao. Núi mà từ đó khởi nguồn Long mạch gọi là Tổ sơn. Ngoài ra Long mạch còn xuất phát từ những khu vực khác gọi là Thiếu sơn. Từ những sự việc trên, ta cảm nhận được rằng có một Long mạch rất lớn bắt nguồn từ núi Tản Viên và các rặng núi phía Tây, Tây bắc của Thành Đại la kéo dài qua thành Đại La theo dọc sông Tô Lịch, chạy qua khu vực Hồ Tây bây giờ (Hồ Tây trước kia là một khúc của dòng sông Hồng ), sau đó sang tới tận địa phận Cổ Loa -Đông Anh  và còn theo hướng Đông, Đông Bắc đi tiếp .
Chính vì có Long mạch này mà Cao Biền phải vô cùng bận tâm, khổ trí nhằm tiêu diệt hoặc chấn yểm. Có rất nhiều truyền thuyết về Cao Biền liên quan đến các khu vực khác nhau của Long mạch này. Ta có thể kể ra đây những hoạt động của Cao Biền liên quan đến các khu vực của Long mạch này : Đầu tiên là truyền thuyết Cao Biền chấn yểm núi Tản Viên, hắn đã sử dụng đến 8 vạn cái tháp bằng đất nung để chấn yểm núi Tản viên. Tới gần đây người ta còn đào được những cái Tháp đất nung đó tại khu vực Hà nội. Tiếp theo là truyền thuyết Cao Biền dùng hơn 4 tấn sắt, đồng...chôn để chấn yểm đền Bạch Mã là nơi vị thần sông Tô Lịch trú ngụ. Cao Biền còn nhiều lần dựng đàn tràng, dùng 4 thứ kim loại : sắt, đồng, vàng, bạc chấn yểm nhiều nơi trên bờ sông Tô Lịch. Theo sử sách, Cao Biền đã đặt Bùa chấn yểm tới 19 nơi dọc theo sông Tô Lịch.
Bây giờ thì Ba cần phải làm sáng tỏ khái niệm thế nào là Long mạch ? Trấn yểm là gì ? dưới cách nhìn nhận của Vật lí hiên đại. Huy Đông, con đã đọc xong tập tài liệu mà Ba đưa cho con mấy hôm trước chưa ? Tác giả của Tài liệu đó đang ngồi trước mặt con đây, Nguyễn Hoàng Tân chính là chàng thanh niên này đây. Nào mời cháu thuyết trình cho Ba con tôi nghe xem lí thuyết của cháu có lí giải thoả đáng những khái niệm Phong thuỷ Phương Đông hay không ?
-         Dạ, cháu xin sẵn sàng.
       Nhìn chàng trai trẻ măng hào hứng, ông Đông nhớ đến tập tài liệu mà Ba vợ anh đưa cho cách đây mấy hôm làm anh chật vật đánh vật với nó mấy buổi tối, bỏ cả đi dạo phố với Hương Giang và 3 con. Tiêu đề của nó là „ Tuyến tính hoá Thuyết tương đối tổng quát theo hướng nghiên cứu không - thời gian lượng tử“.
       Trong đó ngay những câu đầu tiên đã đưa anh vào một lĩnh vực lạ lẫm, nhưng thú vị  và lôi cuốn. Tác giả cho rằng Thuyết tương đối Tổng quát vµ ThuyÕt L­îng tö  lµ 2 thµnh tùu tri thøc lín nhÊt cña thÕ kØ 20. Chóng ®· lµm biÕn ®æi s©u s¾c nÒn t¶ng nhËn thøc trong thÕ giíi vËt lÝ häc vµ kÜ thuËt, ®¹t ®Õn nh÷ng thµnh c«ng to lín trong m« t¶ vµ nghiªn cøu tù nhiªn . Trong ph¹m vi nghiªn cøu cña m×nh mçi mét lÝ thuyÕt ®Òu thµnh c«ng víi sù chÝnh x¸c ®¸ng ng¹c nhiªn , nh­ng  gi÷a 2 lÝ thuyÕt nµy l¹i cßn nhiÒu kho¶ng trèng ch­a ®­îc lÊp ®Çy. Víi kinh nghiÖm khoa häc, chóng ta cã thÓ hy väng r»ng 2 lÝ thuyÕt nµy thùc chÊt lµ nh÷ng phÇn cña mét bøc tranh tæng qu¸t chung , lµ nh÷ng tr­êng hîp ®Æc biÖt cña mét lÝ thuyÕt tæng qu¸t. LÝ thuyÕt  tæng qu¸t ®ã ph¶i bao hµm hµi hßa  néi dung 2 lÝ thuyÕt trªn hay cô thÓ h¬n lµ trong nã thuyÕt t­¬ng ®èi sÏ ®­îc l­îng tö hãa víi t­ t­ëng h¹t nh©n lµ kh«ng – thêi gian l­îng tö. Nh÷ng nghiªn cøu cña chóng ta ngµy cµng phong phó vµ s©u s¾c, nh­ng mét sù thèng nhÊt tháa m·n vµ ®Çy ®ñ cña 2 lÝ thuyÕt trªn cho ®Õn nay vÉn cßn n»m trong ­íc muèn cña c¸c nhµ khoa häc. Tuy nhiªn trong c¸c bµi nghiªn cøu còng nh­ c¸c gi¸o tr×nh c¬ häc l­îng tö, c¸c tÝnh to¸n ®Òu ®­îc x¸c ®Þnh trªn nÒn t¶ng æn ®Þnh  cña kh«ng gian vµ thêi gian, th«ng qua ®ã ®Ó nghiªn cøu tr¹ng th¸i ph¸t triÓn cña c¸c mÆt hay kh«ng gian vËt lÝ còng nh­ c¸c mèi liªn kÕt, t­¬ng t¸c vµ tiÕn hãa cña chóng.
   ChÝnh lÝ thuyÕt l­îng tö ®· lµm thay ®æi quan niÖm vÒ kh«ng gian vµ thêi gian cña chóng ta, nh­ng c¬ hoc l­îng tö cÇn ®­îc ph¶i më réng c¸c kh¸i niÖm vµ nguyªn lÝ khi nghiªn cøu tÝnh  l­îng tö cña tr­êng hÊp dÉn n¬i mµ kh«ng thêi gian h×nh häc lu«n chøa ®ùng  th¨ng gi¸ng nh÷ng gi¸ trÞ ®¹c tr­ng vÒ b¶n chÊt cña nã. RÊt nhiÒu nhµ vËt lÝ lÝ thuyÕt víi nghiªn cøu ngµy cµng s©u s¾c vµ toµn diÖn h¬n  nhËn ®Þnh r»ng h×nh häc cña kh«ng thêi gian vµ thËm chÝ ngay c¶ kh«ng gian kh«ng chØ lµ  vËt chuÈn ®Ó so s¸nh , kh«ng chØ lµ thùc thÓ to¸n häc trong m« t¶ vµ nghiªn cøu tù nhiªn, kh«ng chØ lµ s©n khÊu thô ®éng ®èi víi c¸c qu¸ tr×nh vËt lÝ, mµ lµ h¬n thÕ n÷a vÒ b¶n chÊt, nh­ trong bµi chuyªn kh¶o nµy muèn nãi ®Õn, lµ mét thùc thÓ vËt lÝ ( physical entities) víi ®Çy ®ñ ý nghÜa cña nã. Kh«ng thêi gian kh«ng ph¶i lµ s©n khÊu bÞ ®éng vµ còng kh«ng chØ lµ s©n khÊu chñ ®éng vµ lµ chñ thÓ thµnh phÇn tham gia trong c¸c hiÖn t­îng vµ qu¸ tr×nh vËt lÝ, còng nh­ cña tù nhiªn.           
 Trong ThuyÕt t­¬ng ®èi tæng qu¸t, Albert Einstein ®Ò cËp ®Õn vai trß ®éng lùc cña h×nh häc kh«ng thêi gian trong ®¼ng thøc tr­êng hÊp dÉn cña m×nh. Th«ng qua ®¼ng thøc đó, thuyÕt t­¬ng ®èi tæng qu¸t   ®· ®­a ra mét tÇm nh×n míi trong vËt lÝ häc : Tr­êng vËt lÝ ®­îc m· hãa trong h×nh häc cña kh«ng thêi gian. §iÒu ®ã kh¸c biÖt h¼n so víi vËt lÝ häc Newton, n¬i mµ kh«ng thêi gian tuyÖt ®èi chØ lµ khu néi t¹i trong ®ã ®éng lùc cña hÖ vËt lÝ diÔn ra. Nãi n«m na nghÜa lµ kh«ng gian chØ nh­ mét s©n khÊu, lµ ph«ng nÒn kh«ng biÕn  ®æi ®èi víi tÊt nh÷ng g× x¶y ra trong nã. T×nh h×nh ®· kh¸c h¬n, trong thuyÕt t­¬ng ®èi tæng qu¸t ®¼ng thøc tr­êng – hay nãi c¸ch kh¸c – ph­¬ng tr×nh Einstein nãi cho ta biÕt ®­îc r»ng : vËt chÊt lµm cong kh«ng gian  do khèi l­îng cña chóng, vµ ng­îc l¹i d¹ng hinh häc cña kh«ng gian cong nh­ thÕ nµo ph¶n ¸nh khèi l­îng cña vËt thÓ cã mÆt trong nã. Nh­ vËy, kh«ng thêi gian kh«ng cßn tr¬ tr­íc sù thay ®æi, nã t­¬ng t¸c ph¶n øng l¹i vËt chÊt. Nã lµ  ®éng lùc. Kh«ng gian cã bËc tù do vËt lÝ tÝnh trong b¶n chÊt cña m×nh.
Thùc chÊt h¬n cã thÓ cho r»ng, kh«ng gian còng lµ mét thùc thÓ vËt lÝ, còng tu©n theo c¸c qui luËt vËt lÝ häc, nh­ng ch¾c ch¾n lµ víi nh÷ng ®Æc ®iÓm ®Æc biÖt h¬n so víi nh÷ng g×  mµ tri thøc loµi ng­êi ®· tõng kh¸m ph¸. Dùa trªn c¸c c«ng tr×nh cña c¸c nhµ vËt lÝ lÝ thuyÕt, kÕt luËn logic nhËn ®­îc lµ: kh«ng gian chÝnh lµ khung s­ên trong cÊu tróc vËt chÊt, hay nãi c¸ch kh¸c do sù tÝch tô n¨ng l­îng – c¸c h¹t c¬ b¶n – c¸c mode giao ®éng cña c¸c lo¹i string kh¸c nhau theo string theory – trong mét khu vùc kh«ng thêi gian , tæ hîp ®ã chÝnh lµ vËt chÊt. VËt chÊt lµ kh«ng gian vµ cac sù kiÖn vËt lÝ x¶y ra ®èi víi vËt chÊt còng chÝnh lµ x¶y ra ®èi víi kh«ng gian. VËt chÊt chØ lµ nh÷ng hÖ cÊu tróc cã tÝnh ®ãng t­¬ng ®èi vÒ mÆt n¨ng l­îng vµ lµ hÖ cÊu tróc cã tÝnh më t­¬ng ®èi vÒ kh«ng gian. VËt chÊt kh«ng cã kh«ng gian riªng tuyÖt ®èi, vµ khi chuyÓn ®éng chØ lµ sù tÞnh tiÕn cÊu tróc n¨ng l­îng qua c¸c vïng kh«ng gian chø kh«ng mang theo kh«ng gian riªng cña m×nh. Nh­ vËy, tÝnh l­îng tö cña vËt chÊt ch¾c  ch¾n liªn quan ®Õn tÝnh chÊt t­¬ng øng cña kh«ng thêi gian ®ã lµ l­îng tö kh«ng thêi gian.                                            VËy c¬ häc l­îng tö cã thÓ ¸p dông trong nghiªn cøu kh«ng thêi gian  ®­îc kh«ng ? C©u hái nµy lµm ®au ®©ï bao nhiªu nhµ vËt lÝ lÝ thuyÕt vµ ng­êi ta cµng ngµy cµng  nhËn thÊy nh÷ng c«ng thøc cã tÝnh gi¸o khoa cña c¬ häc l­îng tö trong chõng mùc nµo ®ã lµ phæ qu¸t cho c¶ trong nghiªn cøu tÝnh l­îng tö cña kh«ng gian. Tuy nhiªn, nh÷ng qui luËt lÝ thuyÕt  cña c¬ häc l­îng tö  cho tíi nay ®· xem kh«ng thêi gian nh­ ®· cho tr­íc, lµ c¸i nÒn chËm ch¹p vµ tr× trÖ, lµ s©n khÊu trong ®ã c¸c qu¸ tr×nh vËt lÝ tiÕn triÓn. Trong khi ®ã thuyÕt t­¬ng ®èi th× l¹i kh«ng chØ lµ lÝ thuyÕt cña riªng hiÖn t­îng hÊp dÉn mµ cßn lµ lÝ thuyÕt cña cÊu tróc kh«ng thêi gian, ®éng lùc hÊp dÉn ®­îc m· hãa trong h×nh häc cña kh«ng thêi gian
 MÆc dï kh«ng trùc tiÕp c¶m nhËn ®­îc kh«ng gian nh­ng thùc tiÔn cuéc sèng vÉn cho ta biÕt ®­îc sù hiÖn h÷u cña kh«ng gian quanh ta vµ ngay chÝnh trong c¬ thÓ  chóng ta. Trong mét thêi gian dµi quan niÖm kh«ng gian lµ ch©n kh«ng trèng rçng tuyÖt ®èi kh«ng lµ c¸i g× c¶  ®· ngù trÞ trong triÕt häc còng nh­ trong khoa häc, v× vËy mÆc dï trong c¸c c«ng thøc vËt lÝ ®¹i l­îng kho¶ng c¸ch , diÖn tÝch  vµ thÓ tÝch  lµ c¸c tham sè quyÕt ®Þnh , nh­ng chØ ®ãng gãp vÒ mÆt to¸n häc ®Ó so s¸nh.
 ThuyÕt T­¬ng ®èi cña Albert Einstein ®· lµm mét cuéc c¸ch m¹ng vÜ ®¹i khi xem kh«ng gian kh«ng cßn lµ tham sè tuyÖt ®èi trong c¸c qu¸ trinh vËt lÝ , kh«ng gian còng biÕn d¹ng khi cã vËt thÓ cã khèi l­îng trong nã. §é cong kh«ng gian tõ chç chØ thuÇn tóy cã ý nghÜa  to¸n häc ®· mang thªm vai trß t¹o nªn ®éng lùc hÊp dÉn gi÷a c¸c vËt thÓ. Phøc hîp kh«ng gian – thêi gian thèng nhÊt trong kh«ng thêi gian 4  chiÒu lµ biÓu diÔn to¸n häc mang ý nghÜa vËt lÝ s©u s¾c.
 Tuy nhiªn c¸c c«ng tr×nh nghiªn cøu cµng hiÖn ®¹i cµng tiÕn dÇn ®Õn nhËn thøc vÒ kh«ng gian nh­ lµ mét thùc thÓ mang tÝnh vËt lÝ. Trong  vËt lÝ lÝ thuyÕt , thuyÕt  vßng l­îng tö  hÊp dÉn sÏ kh«ng cã ®­îc nÕu kh«ng thõa nhËn cÊu tróc h×nh häc l­îng tö  cña kh«ng gian. Trong  lÝ thuyÕt d©y  th¨ng gi¸ng l­îng tö cña kh«ng gian lµ c¬ së cho gi¶ thiÕt c¸c string kh¸c nhau cã c¸c mode giao ®éng kh¸c nhau quanh c¸c chiÒu kh«ng gian t¹o nªn c¸c  hä h¹t c¬ b¶n.
  Ông Kim đập khẽ vào tay con rể:
-         Kìa Huy Đông, con đã đọc xong tập tài liệu khó nhằn đó chưa ?
-         Dạ, con đã đọc rồi nhưng chỉ hiểu dược 1 phần thôi, các công thức, các phép toán thì con chịu. Nhưng ý nghĩa của tài liệu thì con nắm bắt được . Chính bản chất mang tính lượng tử của không gian góp phần làm rõ mô hình vũ trụ chuẩn và thuyết Big Bang và chính sự thay đổi cấu trúc mức lượng tử thông qua sát nhập hoặc tách ra của các quan tử đã tuyến tính hoá sự cong của không gian mà Einstein đã mô tả bằng toán học trong thuyết tương đối tổng quát của ông.
Chàng thanh niên mừng ra mặt:
-         Thế thì tốt quá, ít ra chú phải đọc qua công trình của cháu và hiểu được những luận điểm cơ bản như thế thì chú mới chấp nhận được những lí giải sau đây của cháu trong lí thuyết phong thuỷ phương Đông.
   Trước khi đi vào phần chính, vốn sẽ liên quan đến Địa chất, nên cháu xin sơ qua cho chú một giả thuyết khoa học là cơ sở về lịch sử hình thành các dãy núi lớn trên các châu lục, đó là thuyết Lục địa trôi dạt. Theo đó nhân Trái đất của chúng ta là một khối vật chất rắn nóng bỏng hàng ngàn độ, bao bọc trong khối cầu mác ma lỏng, càng ra xa tâm thi khối lỏng đó cang giảm nhiệt độ và trở nên đặc hơn. Mặt ngoài cùng nguội lạnh có bề mặt không bằng phẳng như chúng ta đã thấy. Phần nào trũng thấp, chứa đầy nước là các đại dương để các phần nhô cao mà chúng ta gọi là Lục địa. Trái đât quay mà trục quay là trục Bắc – Nam, lực li tâm làm cho các lục đia tuy là khối lớn nhưng cũng bị chuyển dịch do khối mac ma bên dưới chuyển dịch hướng về phía xích đạo, tuy không nhiều trong một năm, hay 1 trăm năm, nhưng hàng triệu năm thì là một sự đáng kể đến. Có nhiều bằng chứng, nhưng rõ nhất la bán đảo Ấn độ vốn bị tách ra khỏi lục địa Phi , khớp vào chỗ đảo Masdagasca nam châu Phi, khi chuyển dich bắt gặp nam châu á nó vẫn tiếp tục chuyển dịch đẩy vùng đất nam á ngày càng nhăn cao tạo nên dãy núi đồ sộ Hymalaya. Các đãy núi trong một khu vực nào đó  có cốt lõi do một tầng đá mẹ  hoặc là sự tiếp nối của hai hay nhiều tầng đá mẹ kết hợp lại, tức là nơi tập trung khối lương vật chất cao hơn vùng đồng bằng chỉ có đất, tức là vật chất được bồi đày do hiên tượng phong hoá các dãy núi trải qua nhiều thế kỉ.
     Không gian có bản chất cấu trúc lượng tử, không đồng nhất về mức lượng tử vì chỗ nào tâp trung vât chất – năng lượng cao thì có bậc tái tạo quan tử cao hơn vùng tập trung vật chât – năng lượng thấp hơn. Như trong lí thuyết của cháu đã đề cập đến, vật có khối lượng lớn thì gây nên mức thay đổi lượng tử không gian lớn hơn, tương ứng với các dãy núi lớn có kết cấu địa chất nặng. Điều đó tạo nên phong thuỷ của vùng này khác với vùng khác, nhưng bản chất lượng tử của không gian  đã tạo nên các bước nhảy tái tạo quan tử, nghĩa là phải có một thay đổi tăng hay giảm đạt đến một giới han khối lượng vật chất nào đó thì sẽ có thay đổi cấu trúc lượng tử của vùng không gian cụ thể được xét đến. Vùng địa chất có không gian gần đến ngưỡng đổi cấu trúc lưong tử không gian từ mức này sang mức khác gọi là vùng không gian lượng tử nhạy cảm chỗ đó tương ứng trong phong thuỷ Phương Đông là các huyệt. Bằng một cách nào đó thêm vào hay bơt đi khối lượng ở vùng không gian lượng tử nhạy cảm để có thể thay đổi cả vùng không gian lượng tử lớn hơn chính là yểm huyệt.
   Về lí thuyết, nếu ta chặn một dòng sông bằng một chiếc đập thuỷ điện đủ lớn, khối lượng nước trong hồ chứa đủ nặng có thể làm thay đổi mức lượng tử của không gian địa phưong dẫn đến hậu quả ở mức nhẹ thì làm thay đổi tiểu khí hậu của vùng đó , mức nặng thì có thể làm đứt gãy cấu trúc địa tầng tại vùng đó hoặc lân cận,  và có thể gây trượt địa tầng  tạo nên một cú động đất địa phương. Hiện nay người ta chưa tính đến điều đó,  nhưng các đập lớn sẽ có hiệu ứng như vậy, ví dụ Trung quốc đang tiến hành xây đập lớn trên sông Trường giang, hậu quả sẽ có một cú động đất ở vùng quanh đấy trong tương lai, chắc chắn là như vậy.
   Cao Biền trong truyền thuyết đã trấn yểm núi Tản viên bằng 8 vạn cái tháp nung, cũng như trấn yểm thần sông Tô lịch tại địa điểm đền Bạch mã bằng  4 tấn kim loại chính là biên pháp dùng khối lượng lớn để thay đổi không gian lượng tử ở nơi mà hắn bằng cách nào đó tìm được huyệt. Qua khối lượng định lượng mà hắn dùng ( vì sao 4 mà không 3 hoặc 5 tấn ?) chứng tỏ hắn đã có cách nào đó xác đinh được mức lượng tử của vùng không gian mà hắn muốn thay đổi.
  Nếu lí thuyết của cháu đúng thì cách lí giải các nguyên lí  của huyệt phong thuỷ và yểm chặn là như vậy.
Tân dừng lại nở một nụ cười bẽn lẽn trước 2 người lớn tuổi. Ông Kim dặt tiếp câu hỏi:
-         Ông vẫn chưa hiểu nhiều lắm về lí thuyết lạ lẫm này, vây theo cháu thì vật thể kể cả con người không có không gian riêng, mà chỉ có cách phân bố năng lương riêng của mình trong không gian phải không ?
-         Dạ đúng như vậy, chính cách phân bố năng lương hay cụ thể hơn là cấu trúc phân bố, mật độ các hạt cơ bản tạo nên các cấu trúc cao hơn hạt nhân nguyên tử, nguyên tử, phân tử, cao phân tử, bào quan, tế bào, mô, cơ quan rồi cơ thể của chúng ta là chỉ định khu trên cấu trúc không gian - thời gian lượng tử. Chúng ta di chuyển chỉ là sự trượt tịnh tiến phần năng lượng sang dần khu vực khác của không gian, lẽ dĩ nhiên sẽ vẫn còn dấu vết năng lượng trong khu vực không gian vừa rời khỏi. Trong trường hơp đặc biệt, đấu vết đó tồn tai lâu hơn và có khi còn rõ nét đến mức có người với khả năng đặc biệt phat hiện ra và người ta cho đó là các bóng ma.
-          Tốt rồi,  hai cha con ông đã lấy lai niềm tin cho việc tiếp tuc đi tìm „Mật đồ Cao Biền“. Cám ơn cháu ! Ông Kim vui vẻ nói.
 Tân quay sang nói với Ông Huy Đông:
-         Cháu đã được ông Kim kể lại cho cháu câu chuyện nhiệm vụ truyền đời của dòng họ Lê Huy. Nếu chú cho phép, khi nào chú trở lại Viêt bắc thám sát bí ẩn còn lại của hang Ca Biên, Lạng sơn thì chú cho cháu đi cùng. Chú chỉ báo cho cháu biết là cháu thu xếp bay về ngay.
-          Cháu có ý muốn như vậy thì tốt quá. Cám ơn cháu !
-         Như vây là chú đồng ý rồi. Bây giờ thì cháu phải đi, hen gặp chú và ông ở lần khác. Cháu xin chào ạ !
   Tân đi rồi, hai cha con ông Đông cũng quay về nhà vì ông Đông có hen gặp một người bạn học cũ thời ở Quảng bình đến thăm. Ông ta tên là Lê Trung Lương đã từng đi du học ở Đông Âu, sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt ông ta không về nước mà chuyển sang Công hoà Liên bang Đức xin định cư.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét