Chân tời định mệnh 1

                                                     Lời tự bạch
       Cuốn sách này được tôi hoàn thành bản thảo trong hơn 2 tháng, trừ những dòng này đựoc tôi dành lại để viết trong một ngày rất đặc biệt, sinh nhật của con gái tôi. Những con chữ trong sách là sản phẩm tự nhiên tuột ra khỏi trí tuệ của tôi một cách không cưỡng nổi từ sau ngày tôi lặn lội đường xa để đến thăm thành phố nhỏ nhắn xinh đẹp Baden – Baden trong dịp cuộc gặp thượng đỉnh của tổ chức NATO được tổ chức tại đấy. Sau khi lang thang trong các con phố cổ vốn yên tĩnh thơ mộng bỗng trở nên xanh thẫm màu đồng phục của hơn 6000 Polizisten các loại và cũng tình cờ đừng chờ trong một trạm chờ xe Bus ngay cạnh đường nên chứng kiến cảnh đón rước đoàn xe chở các nguyên thủ quốc gia từ sân bay về toà nhà Casino cách chỗ tôi đứng vài trăm mét. Một người đàn ông đi làm về đứng bên tôi cho rằng trong đoàn xe ấy chắc là không có xe nào có chở Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa kì Obama vì ông ta sẽ đến bằng lối khác vào ngày mai, tuy vậy tôi cũng không khỏi nghĩ về vị tổng thống quyền lực nhất thế giới  trong suốt thời gian ngồi trên xe Bus để ra ga xe lửa. Ông ta thắng cử trong một hoàn cảnh nước Mỹ cũng như thế giới đứng trước nhiều bế tắc, khủng hoảng về sách lược phát triển kinh tế chính trị, không nói đến các lợi thế về trí tuệ, tuổi trẻ…thì theo tôi dường như câu khẩu hiệu „We need Change !“ của Đảng dân chủ đưa ra trong chiến dịch tranh cử cộng với cái tên Obama có giá trị huyền bí tâm linh như một câu thần chú chứa nhiều âm „ a“, kiểu như Alehola, Jehova, Amen trong đạo giáo hay câu Umbala của các thấy phù thuỷ thường niệm khi vung đũa thần để thực hiện một phép thần thông nào đấy, đã mê hoặc lòng người một cách vô thức, khiến cho ông ta chiếm được lòng cử tri nước Mĩ cũng như lòng khao khát đổi thay của lòng dân thế giới:“ Đổi mới nào! Obama !“ thế là có ngay đổi mới. Tuy tôi không thú vị gì tham vọng của ông ta cố gắng một cách mất thì giờ để trung hoà  hai đảng Dân chủ và Cộng hoà, mà sự khác biệt tương đối của chúng rất cần thiết cho một nhà nước dân chủ, ông ta muốn thực hiện vai trò Tổng thống của các Đảng như đã nhiều lần nói đến trong tranh cử. Tôi cũng không thú vị cái cách đưa tay ra phía trước với bàn tay cứng đơ ngón gập ngó duỗi, điệu bộ rất đặc trưng của các ca sĩ chuyên biểu diễn nhạc Ráp người châu Phi, khiến ông ta có vẻ như là diễn viên hơn là một Tổng thống có chiều sâu. Nhưng tôi lại rất mong ông ta không phải là Tổng thống một nhiệm kì để đủ thời gian biến kì vọng của nhân dân thế giới đến gần hiện thực hơn.
Tối hôm đó tôi đã lưu lại rất lâu ở nhà Ga Baden – Baden, lâu đến độ đã có một vài nhân viên trong rất đông cảnh sát chống bạo động ở đó bắt đầu nhìn tôi dò xét nghi ngờ. Tôi muốn dứng đó lâu hơn nữa là vì từ lâu tôi rất cảm phục những con người nhân hậu và dũng cảm cúa phong trào phản chiến, nhưng con Người trên cả con người, lăn xả không ngại trước bạo lực dùi cui, đạn cay và vòi rồng xịt nước để đòi hỏi quyền được sống trong hoà bình cho những dân tộc xa xôi, nghèo mọn mà họ chẳng hề quen biết. Tôi biết rõ rằng họ đã đến Baden baden và Strasburg, NATO họp và ngươi chống chiến tranh cần phải đến, họ đến để phản đối với hai ban tay không và trái tim nhiệt huyết quyêt ngăn chặn những manh nha gây chiến trục lợi từ nhưng kẻ có thừa vũ khí và quyền lực. Thắng lợi của dân tộc Việt nam thân yêu của tôi trước đế quốc Mĩ hùng hậu ỏ thé kỉ vừa qua là nhờ phần lớn vào sự ủng hộ của những phong trào phản chiến trên toàn thế giói nói chung và ngay trong lòng nước Mĩ nói riêng, ở đó đã có nhưng con người dám tự thiêu trước Lầu năm góc chỉ để ngăn cuộc chiến tàn khốc ở Việt nam xa xôi. Đế quốc Mĩ đã thua ngay trong lòng nước Mi. Trong thâm tâm tôi rất chịu ơn những con ngươi kì lạ này, kì lạ hơn nhiều lần  Thần thánh. Vì họ cũng là con người trần tục phải mưu sinh, vẫn biết đau đớn vì dùi cui đánh đập, hay cầm tù, vẫn phải quí trọng tưng phút giây kiếm tiền cho người thân. Vậy mà khi cần đến trái tim nhiệt huyết là họ đến ngay không vụ lợi cũng chẳng cần xưng tụng “sắc sắc, không không”. Tôi chịu ơn họ, vì chính tôi trong những ngày gần như tuyệt vọng giữa cuộc chiến ác liệt tưởng như không bao giờ ngừng năm 1973, hoà bình đến một cách đột ngột, đột ngột không gian Quảng binh tuyến lửa ịm lặng hẳn tiếng nổ của đạn bom, tiếng máy bay của kẻ thù quần đảo. Một ngày được bắt đầu từ hang lỗ bước thẳng trên mặt đất an toàn. Một ngày để tin đươc rằng mình còn sống để có thể sống tiếp. Hoà bình mà nhân dân Việt nam có được lúc đó phát xuất từ long yêu hoà bình của nhân loại trào lên, không ngăn cản được. Dân tộc Việt chiến thắng là nhờ nổ lực cùng nhau đừng đầu của công lí và chính nghĩa lúc đó mà thôi. Và hôm nay, trong khi con người Việt nam đang tự khổ vì quôc nan tham nhũng, vị kỉ, thì họ dã đến đây ăn ở lăn lóc trên mặt đât cùng nhau hô to: Hãy ngừng chiến tranh, Hoà binh cho Afganistan ! Tôi không dám đứng trong hàng ngũ của họ nhưng tôi muốn đứng cạnh họ để cảm kích, chịu ơn.
 Cuốn sách này tôi không biết đặt tên là gì cho đúng, xếp nó vào thể loại nào cho phải: Tự truyện ư ? không phải hoàn toàn như vậy ! tiểu thuyết ư? Không phải, vì nó có nhiều tư liệu lịch sử khô cằn quá ! Hồi kí ư ? tôi chẳng dám chơi ngông thiếu khiêm tốn đến như vậy ! Thôi thì nó chỉ là như nó hiện hữu một cách tự thân vậy, vì đơn giản các trang chữ của nó dào dạt tuôn trào trên phím máy tính trong những giờ rảnh rỗi hiếm hỏi của công cuộc mưu sinh vất vả nơi xứ người của tôi. Hầu như cả cuốn sách gần 300 trang này tôi chỉ viết một lần mà không sửa chữa viết lại lần 2, trừ các lỗi chính tả và những câu quá cụ thể trong lí luận xã hội có tính ám chỉ lộ liễu quá.
 Một người bạn trí thức có tên tuổi ngạc nhiên trước việc tôi lơ là công việc kinh doanh khi cứ như người mộng du viết lách, suy nghĩ. Theo anh, tôi nên tập trung trí tuệ để điều hành hệ thống kinh doanh của tôi thì tôi sẽ phát đạt hơn rất nhiều, vì tôi đang có cuộc sống đầy đủ và những đứa con xinh đẹp ngoan ngoãn, có những thứ mà nhiều người chưa hoặc không thể có được kể cả người dân sở tại quanh tôi. Nhưng anh đâu có hiểu rằng tôi là kẻ bị tội đầy, trong thâm tâm luôn bị giằng xé phân thân tự mình làm khổ mình và làm khổ người thân mà không bao giờ cưỡng chế được. Nghiệp chướng của kẻ sĩ theo đuổi cuộc sống có ích, có ý nghĩa bị cuộc sống kinh doanh bạc tiền nhiều rắc rối làm tôi mệt mỏi muốn bứt phá cuồng điên và cũng như những người vì lí do nào đó sống lâu ngày xa quê hương đất nước, tôi yêu đất nước Việt nam, con người Việt nam của tôi bằng tấm lòng của một người luôn thấy mình có lỗi. Tôi viết không vì cầu vinh hưởng lợi, vì để có những thứ đó, bằng con đường khác tôi đạt dược nhanh và rẻ hơn nhiều. Trong cuốn sách này có một số tư tưởng không phải hoàn toàn do tôi nghĩ ra, nhưng khi tôi đã đọc và tâm đắc nghiền nghẩm những ý tưởng, cách lí luận và những dòng viết tâm huyết đó thì nó trở thành máu thịt của mình để đưa vào sách như là một chân lí sở hữu chung cho mọi người. Mà nghĩ cho cùng phàm là người chỉ nhằm phục vụ cho người đọc thưởng ngoạn thì cần gì phải đòi hỏi anh tôi làm gì trong xào nấu các món ăn tinh thần. Cũng trong các trang viết này có thể có ai đó phật ý vì động chậm đến các tư tưởng hay nhân vật mà họ tôn thờ, thì tôi nói rõ rằng chính vì tôi quá kính trọng họ, quá yêu ho nên mới muốn cùng họ cọ xát trao đổi, và cũng vì quá tin tưởng ở vai trò của họ trong cuộc sống vươn lên hàng ngày hàng giờ này mà tôi kì vọng nói ra ý riêng mình không ngại quyền uy hư danh để ít ra là nhận được tranh luận thực lòng cho chính mình.
 Trừ những Nhân vật và sự kiện lịch sử vốn đã được công bố có tính khẳng định, trừ những địa danh lớn, còn tất cả những gì khác như các nhân vật, các sự kiện diễn biến có tính văn học, những vụ án có vẻ li kì và ngay cả những cái mà tôi gọi là tổ chức này nọ, tất cả đếu là hư cấu. Xin nói rõ ra, tất cả đều là sản phẩm của trí tưởng tượng mà thôi, thậm chí dưới con mắt tỉnh táo, thì trí tuệ của tôi cũng là hư cấu nốt.
                                                                        Germany  3.1.2010                                                        

                                      
                                 
                                               Chương 1
                              Rắc rối từ chiếc két sắt không mở được
         Rasheim  là một thành phố nhỏ thuộc tiểu bang Baden - Wurttemberg , một trong hai Tiểu bang giàu có nằm  phía nam  của Cộng hoà liên bang Đức, từ  trung tâm  thành phố chỉ cần đi 2 km là hoà  dược vào dòng xe trên  xa lộ cao tốc A8, con đường huyết mạch quan trọng chạy dọc từ thành phố có Toà án Hiến pháp  Karlsruhe, đích đến là Thành phố München . Con phố chinh của thành phố 40 ngàn dân này là đoạn nhập lại của 2 con đường giao thông Liên bang B10 và B27 lúc nào cũng tấp nập xe cộ.
       21 giờ 5 phút, giờ Berlin. Hauptzollamt  Rasheim. Toà nhà  toạ lạc cạnh đường B27  nằm cuối thành phố, tuy đã muộn rồi, nhưng trên tầng 2 vẫn còn sáng đèn, trưởng phòng Hải quan Bopuss  ngồi trước bàn làm việc vừa uống càfe vừa nhìn đống hồ sơ ngổn ngang trước mặt một cách khó chịu: kết quả đột kich tổng kiểm tra lục soát của hơn 20 nhân viên phối hợp Polizei, Hải quan, Sở Ngoại kiều ngày hôm nay không thu đươc kêt quả như dự định. Theo lệnh của Toà án, nhóm nhân viên công lực của Bà hôm nay đáng lẽ ra ít nhất phải bắt giữ được 1 người Việt nam cư trú bất hợp pháp  trong  4 cơ sở kinh doanh của một gia đình Việt nam trong trung tâm thành phố như theo thư tố cáo. Theo đó, ngôi nhà 4 tầng nằm trên phố chính là địa điêm ra vào thường xuyên và tạm trú của nhiều người Việt nam lạ mặt, họ nghi rằng  đó là nhưng người nhập lậu vào nước Đức. Bà đã cử nhân viên theo dõi  suốt mấy tháng qua để đi đên quyết định tổ chức cuộc khám xét qui mô hôm nay. Vậy mà, công toi với một mẻ lưới hụt, ngoài một vài tài liệu vớ vẩn thu được trong phòng ngủ gia đình, không có đầy đủ bằng chứng cho một sự truy tố có hiệu lực của toà án. Bà hiểu rõ rằng, với sự đánh động này không có cơ may nào nữa trong thời gian đến để biết được những người lạ mặt kia là ai, và công việc điêu tra sắp đến không còn dễ dàng khi luật sư riêng của đối tương sẽ vào cuộc. Bà và cộng sự chắc chắn rằng, với bản tính yếu đuối như  đã thể hiện trên mặt người vợ, những hành vi phi pháp một cách hớ hênh ở họ sẽ không dám có nữa, vậy nên phải chuẩn bị hồ sơ chuyển sang toà án như thế nào đây, rắc rối thật. Không khí trong phòng trở nên ngột ngạt do lo sưởi không biết ai vặn bộ điều tiết lên ở mức cao, lúc nãy bận xem xét hồ sơ Bopuss  không để ý đến, bà đứng lên tiến đến cửa sổ và mở toang. Ngoài trời, mùa đông đã đến, tuy chưa có tuyết nhưng không khí về đêm đã rất buốt giá. Một làn gió ào đến  lùa vào làm tung lên những tờ biên bản khám xét rơi tạt vào góc phòng. Khép bớt lại cánh cửa sổ, Bopuss vội chạy đến nhặt những tờ giấy mỏng đặt trở lại lên mặt bàn. Lơ đãng nhìn vào tờ trên cùng, mắt bà bỗng chăm chú vào dòng cuối dưới mục những đồ vật bị tạm giữ: Một két sắt chưa mở được.
-         Két sắt chưa mở ? Ừ nhỉ. Nó đâu? – Bà lẩm bẩm rồi đảo mặt tìm – À, kia rồi.
Một chiếc két sắt nhỏ, loại được bán rất nhiều ở các cửa hàng Vật liệu xây dựng dùng cho gia đình với chỉ dẫn : Mức độ an toàn trung bình. Người ta chỉ chứa trong đó những thứ chỉ nhằm tránh sự tò mò hơn là chứa tiền bạc hoặc vật đắt tiền. Chiếc két sơn màu xám bạc nằm ở góc phòng một cách trơ trọi trên nền nhà, chẳng gợi nên một cảm giác bí ẩn thái quá như trong chuyện trinh thám thường có, vì nó trông đơn giản và mỏng manh quá.
-         Nhưng dù sao cũng là một chiếc két chưa mở được trong một cuộc khám xét chưa kết quả. Tai sao chưa mở được ? Hay là chủ nhân của nó muốn che giấu điều gì quan trọng ?
Bà với tay qua bàn nhấc điện thoại vừa đảo mắt tìm số của nhà hàng Cưu long.
     21giờ 35 phút. Trung tâm thành  phố Rasheim. Phố Bưu điện. Nhà hàng  đặc sản Việt nam lúc này đã vắng  khách. Ông Lương đang ngồi chuyên trò với người đầu bếp, câu chuyên dĩ nhiên không thể khác hơn là xoay quoanh  vụ khám xét cả ngày vừa qua của lực lượng công vụ đối với các cửa hiệu và nhà riêng của ông.
-         Tôi thật sự bị bất ngờ về sự kiểm tra đột ngột này, và càng rất ngạc nhiên về qui mô cũng như cách lục soát bất thường của nó.
Người dầu bếp bày tỏ nhận xét:
-         Theo em thì rõ ràng là đã có một ai đó đã rất căm tức anh vì một một lí do nào đó, rât có thể là một người đông hương của chúng ta, đã gọi điện tố cáo một cách hen hạ. Anh có nghi là ai không ?
-         Mọi sự cũng có thể như vậy lắm, nhưng như thế thi buồn quá. Tôi không sợ điều gì rắc rối, chỉ thấy buồn da diết mà thôi.
-         Nhưng em hỏi thật nhé ! Phải chăng là anh đã có gì không rõ ràng trong việc tiệp đón nhưng người khách đồng hương bấy lâu nay ? Có đúng như họ nghi ngờ không ?
Ông Lương xua tay:
-         Về việc nhập cảnh bất hợp pháp vào nước Đức thì cậu thấy đấy: mình toàn đi đón khách về  từ sân bay quốc tế Frankfủt, hiển nhiên là không thể đi máy bay lậu được. Với lại bạn đến thăm mình dều là thương gia, hoặc là  nhà khoa học  người Việt có tên tuổi, sự nghiệp vào Châu Âu theo giấy mời từ các đối tác ở nước Đức thì sao gọi là khuất tất được.
     Tuy nghe vậy, nhưng ánh mắt ngươi đầu bếp không giấu được nét hoài nghi. Biết làm sao được, ông Lương tự nghĩ và không nói chuyên tiếp. Trong đầu ông rât lấy làm buồn vì lí do riêng mình mà đã để cho những người thân của ông, đăc biệt là vợ con của ông phải liên luỵ thiệt thòi. Từ nay, công việc kinh doanh của gia đinh ông sẽ không còn thuận lợi nữa, cuộc sông gia đình và quan hệ ban bè sẽ bị xáo trộn khi sự rình rập của lực lượng công quyền không bao giờ chịu bỏ qua, thất bại. 
-         Mình nói với mọi người một điều cần biết để cẩn trọng : chắc chắn mọi cuộc đàm thoại qua điên thoại đến gia đinh mình  hoặc gọi đi dều đã và sẽ bị nghe lén và ghi lại. Pháp luật nước Đức đã cho phép như vậy trong trương hợp toà án đã ra quyết định như lần này. Tuy chung ta không có gì khuất tất vi phạm pháp luật, nhưng cẩn thận vẫn hơn – Ông Lương vội nói khi chuông điện thoại đột ngột reo vang.
Cô bồi bàn nhấc máy.
-         Nhà hàng Cửu long xin chào !
-         Phòng Hải quan thành phố  Rasheim đây, tôi là  Frau Bopuss, xin lỗi là đã gọi quá muộn. Cho tôi gặp Herr Lê.
-         Anh Lương, điên thoại của anh.
Ông Lương ngạc nhiên cầm lấy ống nghe:
-         Tôi là Herr Lê đây, xin lỗi ai muốn gặp tôi đấy.
-         Tôi là Frau Bopuss, trưởng phòng Hải quan thành phố Rasheim. Liên quan đến lệnh khám nhà của ngài, chúng tôi mời ngài 9 giờ sáng ngày mai đén gặp chúng tôi tại phố Nhà Ga số nhà 49 để mở chiếc két sắt chúng tôi đang tạm giữ. Yêu cầu ngài đến đúng hẹn. Ngài chắc đã hiểu vấn đề rồi chứ.
-         Vâng thưa Bà, nhất định tôi sẽ đến. Chào bà, hẹn gặp ở ngày mai.
-         Chào ông.
-         Khỉ thật ! Ông Lương văng chửi và nói với mọi người.
-         Thông thường thì không ai ở công sở Đức làm việc vào lúc gần nửa đêm như thế này cả. Trong trường hợp như  vừa rồi thì chỉ có thể là sự vụ của chúng ta quá quan trọng hoặc là do con mẹ Hải quan này không có chồng con ban bè gì hoặc vừa bị bồ đá nên làm việc hăng lên để đỡ buồn, đằng nào cũng chết mẹ tôi rồi. Scheiße !
-         Két sắt nào vậy anh ? - cả hai người bạn đều bật lên.
-         À, chiếc két sắt mình đặt ơ phòng ngủ dành cho khách ở tầng trên nhà  mình. Ban chiều khi khám xét họ đã bắt mở ra nhưng mình đã bấm đúng số mật mã nhưng không hiểu sao không thể nào mở ra được. Do bấm sai quá 3 lần, theo thiết kế của nhà sản xuất, bảng số tự động ngưng hoạt động  và phai 2 giờ sau mới cho phép bấm mã số tiếp. Tụi hải quan nghi nghờ mình cố tình không chịu mở két vì giấu giếm gì đó, nên lập biên bản thu giữ và mang về. Thực ra, mình cũng không hiểu vì sao mình không mở được vì số mật mã mình đặt theo ngày sinh của con gái út của minh, nhầm sao được. Rắc rối thật rồi !
Từ lúc đó cho đến khi trở về nhà ông Lương mang trong trí mình nỗi lo lắng: Tại sao vậy ? Làm sao để ngày mai mở được cai két sắt, mà theo ông  là không có gì bên trong nó cả. Đưa nỗi băn khoăn ra trao đổi với vợ và 3 đứa con của ông, không ai có thể giúp đươc ông điều gì hơn lời khuyên của cậu con cả:
-         Ngày mai, Ba đến phòng Hải quan thành phố và Ba thử dùng lần lượt ngày sinh của tất cả 5 người trong gia đình mình để thử. Nếu không kết quả Ba cho phép họ tự mở bằng cách nào cũng được.
-         Đành phải vậy thôi.
Suốt đêm ông Lương không thể ngủ được mặc dù ông gắng mình bằng mọi cách để tự ru ngủ mình.Cũng phải thôi, ông tự hiểu, sau 1 ngày dầy biến động căng thẳng như vừa rồi ai có thể thanh thản được, huống gì nỗi lo lắng cho tương lai gia đình đang đè năng trái tim của ông lúc này. Về việc chiếc két sắt, ông than thở:
-         Lão già Lê trung Lương, lão lú lẫn quá rồi đấy ! mới 50 tuổi mà tệ đến vậy rồi sao ? Trí nhớ mà thời đi học bạn bè của lão vẫn thán phục giờ là như vậy hả ?
 Phòng làm việc của trưởng hải quan thành phố Rasheim, 9 giờ 12 phút sáng, Frau Bopuss theo dõi Herr Lê loay hoay tìm cách mở chiếc két sắt của chính ông ta với cặp mắt nghi ngờ thiếu thiện cảm: Ông ta định giở trò gì đây ? Định qua mặt chúng ta chắc ? Con người như ông ta lẽ nào lại ngốc nghếch đến mức ngây ngô như vậy sao ?
-         Herr Lê – Bopuss lạnh lùng nghiêm giọng tỏ uy quyền – Ngài phải mở bằng được chiếc két này ! Chẳng nhẽ ngài không  muốn mở nó cho chúng tôi xem trong nó có gì ?
Ông Lương không đáp lời, tiếp tục làm theo cách con trai ông đã khuyên tối hôm qua. Nhưng không kết quả, để rồi phím bấm của mặt két lại một lần nữa tự động tắt bỏ hoạt động . Ông  cáu kỉnh  phân bua :
-         Xin lỗi bà, chắc chắn bà nghĩ rằng tôi đang có hành động ngu ngốc để giấu diếm một cái gì đó quan trọng trong chiếc két sắt này. Thật sự là không phải như vậy, để chứng thực tôi  cho phép bà dùng cách nào đó để phá khoá của nó, tôi khong còn cách nào khác nữa.
Nghẫm nghĩ một lúc, Bopuss quyết định :
-         OK, chúng ta không cần phải vội. Tôi sẽ chờ thêm 1 ngày, hy vọng là ngài đủ thời gian để hiểu mình cần làm gì trong trường hợp này. Ngài có thể về, chúng ta sẽ gặp nhau vào ngày mai, cũng tại đây. Xin chào !
Không tin tưởng ngày mai mình sẽ khá hơn, ông Lương bắt tay tạm biệt Frau Bopuss trong sự ngượng ngùng:
-          Chào Bà !
Ra đến bãi đỗ xe, ông Lương ngồi vào xe mà vẫn chưa muốn khởi động. Ông gần như hoàn toàn không còn tin vào mình. Không phải là sợ hãi trước sự doạ nạt của nhân viên thừa hành pháp luật vì ông biết mình không có tội:
-         Cây ngay không sợ chết đứng - Người Việt đã có câu thành ngữ như vậy. Nhưng vì sao mà mình không mở được két sắt của mình, thật hài hước !
12 giờ 48 phút. Cửa hàng thực phẩm châu Á  Cửu long  Rasheim. Jesca Lê, cô học sinh lớp 9 trường Gymnasium   Rasheim  đi học về:
-         Chào Ba!
-         Chào con gái của Ba, con có gì vui ở trường không ?
-         Cũng thường thôi Ba ạ, Ba đã mở được két sắt chưa Ba ?
Ông Lương lắc đầu:
-         Chưa được, họ hẹn Ba ngày mai lại lên. Ba thấy chẳng hy vọng gì nhiều.
Cô con gái an ủi:
-         Con nghĩ rằng, đó không phải lỗi tại Ba đâu.
-         Không tại Ba thì tại ai ?
-          Biết đâu ai đó đã đặt lại mật mã,
-         Đặt lại mật mã ? Ai đó ? Khoan ! chẳng có lẽ ? Thôi đúng rồi ! Ba nhớ ra rồi ! – Ông Lương tự vỗ trán mình – Chú Huy Đông ! Tiến sĩ Lê Huy Đông !
Ông Lương chạy vội lên nhà, lục tìm trong ngăn tủ nhỏ đầu giường trong phòng ngủ của mình. Ông reo lên vui vẻ với cô con út Jesca:
-         Ba tìm thấy rồi !
-         Ba tìm thấy mật mã rồi ư ? Cho con xem với nào ! – Cô bé phấn khởi nhìn vào mảnh giấy nhỏ trên tay cha cô:
-          Đây chỉ là Card Visit của chú Huy Đông, chẳng nhẽ số mật mã là số điện thoại của chú ấy ?
-         Ba chưa biết có phải như vậy không ! Nhưng chỉ cần liên lạc được với chú ấy là biết ngay thôi mà. Chắc con còn nhớ 4 tháng trước đây chú Huy Đông trong dịp sang công tác ở Đức có ghé thăm nhà ta mấy ngày trước khi về lại Paris, đúng vào lúc anh Hai con làm sinh nhật nên có nhiều người cùng ở lại trong nhà ta. Để tránh việc đáng tiếc xảy ra, Ba đã bê lên cho chú Huy Đông chiếc két sắt cũ không dùng đã lâu và yêu cầu chú cho những gì quan trọng vào cất trong đó những khi chú đi vắng. Ba đã hướng dẫn cho chú ấy cách đặt mật mã mới. Bây giờ thì con gái của Ba hiểu được vấn đề rồi chứ ?
-         Ok rồi thưa Ba, bây giờ thì Ba yên tâm rồi chứ ?
Ông Lương dí yêu ngón tay lên trán con gái:
-         Chưa đâu ! Vấn đề là…
Jesca cướp lời cha:
-         Telefonieren ! OK, để con bấm máy cho Ba !
Ông Lương nhận máy nghe từ tay con gái. Tiếng tút tút trong ống nghe kéo dài mấy lần rồi tiếng rột rẹt xa xăm trước khi có tiếng phụ nữ:
-         Thuê bao quí khách vừa gọi, hiện không liên lạc được ! Xin quí khách gọi lại sau !
Thử gọi một vài lần nữa vẫn như vậy, ông Lương an ủi con gái:
-         Chắc chú Huy Đông đang bận việc gì đó nên phải tắt máy Mobil của chú ấy. Từ giờ đến mai thế nào cũng sẽ liên lạc được thôi con ạ !
-         Con cũng hy vọng là như vậy ! Jesca đáp lời nhẹ nhàng, ông Lương nhận rõ qua ngữ điệu hàm chứa sự thất vọng mơ hồ của cô con gái yêu.

        18 giờ 58 phút, giờ Hà nội. Tại một Bản của người  Mường thuộc huyện Hữu lũng, tỉnh Lạng sơn. Trong ngôi nhà sàn của trưởng bản nép bên rừng vầu, lọt thỏm giữa một thung lũng nhỏ. Những vách đá cao ngất của dãy núi Cai kinh ép chặt những ngôi nhà sàn của bản trông đã nhỏ lại càng nhỏ nhăn yếu ớt hơn. Bên bếp lửa giữa nhà, một người đàn ông nằm thiêm thiếp trên một tấm nệm vốn là chiếc túi ngủ màu xanh rêu. Bộ quần áo thể thao hiệu  Adidas, đôi bít tất bằng len dày dặn của người đàn ông, cùng với chiếc túi ngủ loại chuyên dụng cho những người châu Âu đi du lịch dã ngoại hiện đại, tiện nghi, tương phản hoàn toàn với tất cả những đồ vật bày biện trong ngôi nhà sàn này. Tương phản với một bà lão mặc bộ váy áo đặc trưng cho dân tộc Mường  mà màu sắc chủ đạo là xanh chàm với những đương viền hình học đơn giản bằng chỉ thêu các mầu không còn sặc sỡ do thời gian dầm mưa giải nắng, tuy bắp chân quấn xà cạp nhưng vẫn để lộ hai bàn chân thô kệch chai dày do suốt năm tháng cuộc đời đi chân đất. Bà lão đang lúi húi chuẩn bị bữa tối. Ngọn lửa nhảy nhót trên những khúc gỗ to chất rất khéo trên một tấm sắt dầy  phủ đầy tro bếp hắt ánh sáng mờ ảo vào những vật dung thô sơ được dựng hoặc treo rãi rác trong các góc nhà. Bà lão lặng lẽ công việc thường nhật, khiến người lạ nhìn vào tưởng rằng bà cũng thuộc vào nhũng đồ vật trong nhà chỉ khác là biết cử động. Mùi khét của khói gỗ cháy nồng nồng cũng không át được mùi ngai ngái của lá rừng mục nát, của đất rừng phong hoá lâu năm bám theo hơi lạnh phả ra từ núi đá vôi luồn vào nhà. Trời đất vùng núi tối lại rất nhanh, bóng tối đã kịp đặc quánh lại dưới các tán cây, kiên trì đuổi theo hai người đàn ông đang vội vã trở về ngôi nhà sàn. Đó cũng lại hai người tương phản nhau hoàn toàn: một người già lão mặc quần áo chàm vải thô tự dệt đi chân trần, người kia là một thanh niên trẻ trung mặc bộ quần áo vải pha nilon dầy dặn kiểu đồng phục chuyên dùng cho vận đông viên leo núi có nhiều túi phụ, đai thắt có móc dính, tiện lợi và ấm áp. Đôi giày cao cổ có đế cao su dày dăn vững chãi kêu cót két theo từng bước đi hăm hở của anh.
     Leo lên cầu thang nhà sàn, người trẻ tuổi vội vàng cởi giày rồi chạy vội đến bên người đàn ông năm bên bếp lửa, nhưng vẫn không quên nói với bà lão đã ngồi sẵn bên cạnh họ, tay phải bà cầm 1 chiếc muôi bằng gỗ xào xới  nồi cơm thơm lừng:
-           Con chào Mế ! Cơm gạo mới thơm quá làm con đói ngấu  thêm hơn rồi đây này. Hôm nay Mế cho chúng con ăn cơm với những gì đây ?
Bà Mế trả lời chất phác:
-         Cũng không ngon lắm đâu vớ, mình cho cán bộ ăn cơm vơi thịt lơn rừng và canh rau cải gieo trên nương thôi. Cán bộ đi lên xã có được cái việc không?
-          Ôi, đi làm việc với ông Ké thì chắc chắn là được việc rồi. Chỉ tội là ông Ké luồn đường rừng nhanh quá, con phải gắng sức lắm mới đuổi kịp.
-         Cái cán bộ Đông nằm nhà vẫn còn mệt lắm đấy,thỉnh thoảng tỉnh dậy là cán bộ đòi uống nước và hỏi xem cán bộ Tân đã về chưa đấy. Thôi mình đi dọn cơm để ông ké lên nhà là có cái ăn ngay đây.
Vừa ấp 1 tay lên trán người ốm, Tân vừa gọi khe khẽ:
-         Chú Đông ! Chú Đông ! Chú thấy trong người thế nào rồi ?
Ông Đông choàng tỉnh:
-         Tân đã về rồi à ? Công việc thế nào rồi ? Chú đã cảm thấy khá hơn nhiều.
-         Công việc chú giao, cháu đã hoàn thành. Chú gắng dậy ăn đi đã, cháu sẽ kể lại sau. Dậy đi chú !
Ông Đông găng gượng ngồi lên, cầm cốc nước từ tay Tân và bò đến bên mâm cơm được bà Ké đã bày sẵn trên chiếc chiếu hoa ngay trên mặt sàn nhà.
-         Ông Ké đâu rồi, sao chưa thấy lên nhà ? ông Đông hỏi Tân.
-         Cán Bộ Đông không cần lo đâu vớ ! Ông ấy đang đóng cửa chuồng của con trâu con gà, rồi lên ngay thôi.
     Bà Ké trả lời thay Tân lúc này đã cởi bớt quân áo ngoài và đang lúi húi chất thêm củi vào đống lửa. Khuôn mặt Tân giờ  được ánh lửa hồng soi rõ nét thông minh, trí thức nhưng lại rất chân thực dễ mến. Một chàng trai thị thành đẹp rắn rỏi với mái tóc cắt ngắn đầy cá tính.
     Tiếng nước xối chảy róc rách trước hiên nhà sàn ngừng lại được một lúc thi ông Ké  bước vào nhà với hai bàn chân trần còn nhoáng  nước. Ngồi xuống bên mâm cơm ông đon đã:
-         Cán bộ Giáo sư Đông  đã thấy đỡ đau chưa ? – Câu hỏi của ông chủ nhà cho ông Đông thoáng chút ngỡ ngàng, ông liếc sang Tân ,thấy chàng trai mủm mỉm cười tinh nghịch, ông Đông đoán được ra ngay.
     Chắc ban chiều những ông cán bộ xã sau khi xêm giấy giới thiệu đi công tác của hai chú cháu do Tân đưa trình, anh chàng cố nhấn mạnh học hàm giáo sư của ông để tăng tầm quan trọng của chuyến đi và tranh thủ sự nể trọng của lãnh đạo địa phương cho công việc của họ thuận lợi hơn. Thằng cha này cũng ranh khôn thật.
-         Tôi thấy đỡ nhiều lắm rồi ông ạ. Nhờ dùng thuốc lá rừng của ông mà tôi qua được nguy hiểm, cám ơn ông bà nhiều lắm.
Bà chủ nhà xua xua tay :
-         Không có nguy hiểm đâu đấy vớ, Cán bộ không cần cám ơn mình đâu. Cái độc của con bò cạp không chết được người đâu. Không cho thuốc lá thì cũng 2 ngày là tự khoẻ thôi. Không cần cám ơn đâu.
-         Độc của bò cạp ? - Cả hai chú cháu ngạc nhiên thốt lên, nhìn mặt hai ông bà chủ nhà. Lúc này cả hai vợ chồng bỏ bớt khăn áo, bên hơi nồng bếp lửa họ trở nên trẻ trung hơn rất nhiều so với lúc lầm lũi làm việc. Người chồng tầm ngoài 50 tuổi mặt vuông cương nghị, người vợ kém chồng dăm tuổi với nét phúc hậu dịu dàng của một phụ nữ biết rõ bổn phận của mình. Chắc chắn  lúc còn trẻ họ là một cặp tình nhân dân tộc Mường đẹp người đẹp nết trong những phiên chợ tình đầy tiếng đàn Tính, tiếng hát Lượn mộc mạc, đơn sơ.
-         Vì sao ông bà biết chắc là tôi bị bò cạp chích ngay từ lúc đó ? Ông Đông hỏi.
-         Thì ông cứ tự nhìn vào vết thương của mình là biết ngay thôi !
     Hai người khách cùng chăm chú nhin vào mu bàn tay phải của ông Đông, nơi bị sưng tấy lên một vầng tím sậm. Ừ nhỉ, đơn giản vây mà mình không nhận biết ngay được để hai chú cháu, sau khi tự buộc Taro ngăn nọc độc , cuống quýt tìm thầy thuốc chữa rắn độc cắn. Ông Đông giải thich cho bạn đồng hành:
-         Cậu chỉ cần hiểu rò hai từ cắn hay châm là biết ngay…
-         Vết thương chỉ có một lỗ thì chắc chắn là con vật gây thương bằng kim châm nọc chứ không dùng răng. Và chúng chỉ có ở bò cạp hoặc ong, thôi rõ rồi.
     Từ lúc đó không khí trong ngôi nhà sàn giữa thung lũng núi rừng heo hút dường như  thay đổi hẳn. Ông Đông trở nên khoẻ khoắn hơn sau khi cố uống một chén rượu do ông chủ nhà đưa cho, trước đó với tâm trạng lo lắng bệnh tật chắc chắn là ông không cho phép mình nâng cốc. Rượu tự nấu lấy của người Mường được chưng từ củ sắn ủ men lá rừng, có độ rượu không cao lắm nhưng rất chóng say. Hương vị của thứ nước lên men này rất hợp vơi cưộc sống nơi âm u cùng cốc này, uống say ngà ngà 1 tí ông Đông thấy minh đương như hoà lẫn vào không gian rừng núi, gần gũi với bóng đêm huyền bí, không còn nỗi nghi ngại sợ sệt trước những  dãy núi lừng lững, những cánh rừng sâu thẳm  đây bí mật bất ngờ. Và nhất là giải phóng cho ông cảm giác thất bại của kế hoạnh bao nhiêu năm nung nấu trong ông, khi ông vừa đặt chân đến đây liền bị thần núi rừng cắn cho một nhát tưởng như nguy hiểm đến tính mạng. Phát châm độc của con Bọ cạp chiều qua dưới chân dốc đầu Bản vào tay ông, khi ông vô tình chạm vào nó trong bóng hoàng hôn, phải chăng là thiên nhiên hoang dã muốn nhăc nhở hai chú cháu cần thận trọng hơn. Hai ngày nằm bẹp bên bếp lửa nhà sàn là thời gian để ông Đông rà xét lại lần cuối những gì đã xảy ra với mình trong hơn 25 năm vừa qua như một cuốn phim chiếu chậm, 25 năm cuộc đời danh cho sự nghiệp và cho gia đình vợ con, giờ đây ngoài 50 tuổi ông phải nhớ đến bổn phận hoàn thành nhiệm vụ định mệnh của dòng họ tổ tiên ông. Là đứa con có hiếu, ông tự nguyện nhận trách nhiệm mà cha của ông lúc sinh thời không làm được. Một nhiệm vụ của dòng họ truyền đời, một nhiệm vụ đã có lúc ông nghi nghờ ý nghĩa hiện thực của nó nhưng ông lại bị khuất phục bởi ý nghĩa tâm linh sâu xa không cưỡng lại được ở nhưng con người trọng nhân nghĩa như ông.

                                              Chương 2
                                         Đường về Cố đô
                               Mẹ Âu cơ và đàn con vắng mẹ

    Hà nội, mùa Hè năm 1985. Mấy hôm nay trời ngột  ngạt quá, nắng không dữ dội nhưng không khí thì nóng hầm hập. Không có gió. Trong khuôn viên cư xá trường đại hoc  Tổng hợp Hà nội lại càng oi nồng hơn do thiếu không khí trong lành cho một mật độ Sinh viên đông đúc. Đã vây năm nay là năm khốn khổ vì thiếu thốn đắt đỏ cho mọi người dân, Sinh viên Đại học ăn uống vạ vật không đủ no, nước dùng sinh hoạt thiếu nghiêm trọng, điện liên tuc bị cắt khiến cho mọi người không thể ngồi trong phòng Cư xá được, đành phải ùa ra các đám cỏ bụi cây để tránh nóng. Các quán cóc đơn sơ tranh thủ  mọc lên phục vụ kiếm tiền. Sinh viên cao học Khoa Sử Lê Huy Đông  đang uống nước chè chén cùng một người bạn cùng lớp trong một chiếc quán - bụi cây- như vậy. Trời nóng, nước chè nóng bốc khói thế mà càng uống càng thích, thế mới ki lạ. Chiều nay không có cơm, thay vào đó bếp ăn của trường cho sinh viên ăn nhưng cục bột mì đen kịt chan canh rau muống, không ngon nhưng ai cũng cố nuốt không thì dói lấy đâu sức lực đi học. Ăn như vậy,  Đông cảm thấy khó chịu trong dạ dày nên không thể ngồi đọc tài liêu trong Thư viện được, anh đành phải ra quán cóc ngồi tán gẫu với bạn mặc dù rất tiếc thời giờ. Năm nay là học kỳ cuối của khoá học 2 năm,  là thời kì gấp rút hoàn chỉnh luận án tốt nghiệp, hướng nghiên cứu của anh là Dân tộc học Việt nam, một đề tai rộng lớn, phong phú tài liệu, nhiều người đã nghiên cứu, đối với người khác đó là thuận lợi. Nhưng đối với Huy Đông thì lại là một khó khăn khi anh không muốn đi theo những lối mòn sao cũ:
-         Theo tớ thì cứ chọn phứa mục đich nghiên cứu đại loại như : Sơ bộ khảo cứu gì gì đó .. là xong cần gì mà cậu phải quan trọng hoá vấn đề quá vậy. Dễ làm và dễ bảo vệ tốt nghiệp là tốt nhất trong lúc này đấy Đông ạ.
Anh bạn vừa uống nước nóng vừa hít hà vưa nói vậy.
-         Nhưng tính mình lại không chịu được như vậy. Mình thích lầm bất cứ việc gì cũng có suy nghĩ của riêng mình, nhất là trong nghiên cứu khoa học. Khoa học Lịch sử chả nhẽ không thoát ra được sự nói dựa, nói leo, nói vuốt đuôi sao, Lịch sử là khoa học nghiên cứu hiện tượng xã hội  khách quan.
-         Vừa thôi , anh bạn, kẻo mất quan điểm lập trường là nguy đấy. Đi tìm cái riêng đánh giá khách quan trong nghiên cứu Lịch sử ở Viêt nam là  tự đi tìm sự rắc rối cho sự nghiệp và cuộc đời mình . Nhất là trong nghiên cứu Lịch sử Việt nam cân đại, lúc này người ta đang cố đánh đồng khái niệm và đánh tráo khách quan. Ai trong chúng ta chẳng rõ như vậy.
-         Bởi vậy tớ  đã né tránh bằng cách chuyển sang nghiên cứu dân tộc học, tớ sợ mình không kiềm chế được trong tranh luận học thuật.
-         Cũng vậy thôi anh bạn người Huế ạ ! „Chính trị là thống soái“ người ta đã từng lớn tiếng tuyên ngôn như vậy rồi. Thôi  chuyển đề tài sang tình yêu.
-         Khoản đó thì tớ u mờ lắm, chịu thôi, tớ nghe cậu độc thoại vậy nhé.
-         Này Huy Đông, đừng giả vờ ngây thơ. Bạn bè với nhau mà giâu giêm nhiều quá là không công bằng đâu đấy nhé. Chí it ra thổ lộ cho nhau biết những gì mà câu chât chứa trong lòng  một cách u uất thì cậu cũng vơi đi sự dau khổ.
Anh bạn ranh mãnh nhìn thẳng vào mắt Huy Đông,  làm anh  bối rối giả vờ lãng tránh:
-         Cậu bắt nọn tớ đấy à ?  Chả nhẽ ai buồn cũng vì thất tình sao ? Biết đâu tớ đang nhập vai thất tình để lấy cảm hứng thi ca ? Cậu quên rằng tớ là người Huế à ?
-         Cái gì ? Người Huế ? làm thơ ?- Anh bạn bật dậy , nhìn quanh  một cách kín đáo rồi  nhẹ giọng lại, giọng đầy châm biếm – Kì cục thật, cái đất nước nghèo đến nỗi ai cũng đói vàng cả mắt, hễ cứ ra đường là tất tả nhìn quanh tìm ăn. Ăn bất luận cái gì có thể ăn được, từ con cua ,con ốc, cào cào,  châu chấu, dến con voi, con hổ đêu bị săn lùng để phục vụ cho cái sự ăn của con Rồng, cháu Lạc. Thế mà cứ hề gặp nhau hội họp, hễ có chức quyền là văng thơ, quặc thơ vào mặt nhau bắt nhau thừa nhận, tán tụng, u u mê mê. Này Huy Đông ! Cái ông nhà thơ kiểu khẩu hiệu thích làm chính trị nửa mùa người Huế nhà cậu đang gây ra hiện trạng đât nước như hiện nay,gây đau khổ cho cái dạ dày của cậu và tớ hàng ngày như vậy này, còn  chưa đủ cho cậu tỉnh mắt hay sao hả anh bạn cũng người Huế thân mến ?
Đông vờ tỏ mặt lo sợ:
-         Ai mà chẳng biết là vậy. Cẩn thận kẽo vạ mồm đấy !  Tớ đùa thôi mà, vì cậu thừa biết là tớ từng bị các cậu chụp mũ là có quan điểm cực đoan về người làm thơ rồi đó sao. Nhân đây, tớ xin cậu một lần nữa xác nhận, cũng như các cậu và mọi người, tớ cũng rất yêu thơ và cần thơ như là một món ăn tinh thần, nhưng đó là những bài thơ đích thực  nghệ thuật, dùng vào lúc  con người cần siêu thoát, nổi loạn  hay khao khát bất thường vì chính những bài thơ tuyệt tác để đời cũng là sản phẩm của những lúc như vậy của tác giả. Nhà thơ tài năng họ cần và có quyền duy trì thường trực trạng thai đó, vì họ xem làm thơ là lẽ sống, là nghề nghiệp chuyên sâu của họ. Đó là một nghề như mọi nghề khác.  Mọi người ai cũng phải có một nghề nào đó trong xã hội, nghề nào cũng bình đẳng với nhau , mức độ cao quí hay thấp hèn do cá nhân thực hành nghề đóng góp sự có ích cho xã hội mà anh ta là một thành viên của nó, bất luận anh là thủ tướng hay là nhân viên quet đường : anh làm việc và chắc chắn anh nhận được lương để tiếp tục sống và làm việc. Qui mô công việc, tầm quan trọng của nó đối với xã hội quyết định giá trị thù lao nhận về theo cả hai khía cạnh : vật chât và tinh thần. Nhà thơ sản xuất thơ thì trạng thái tâm hôn, thậm chi trí tuệ bất thường  luôn thương trực là cần thiết  dễ hiểu, nhưng một dân tộc chỉ lấy thơ làm điểm tựa quyêt sách cho phát triển,  dân tộc đó khó có cơ hội sánh vai với các dân tộc khác. Các dân tộc văn minh sẽ lấy dân tộc thơ ca làm nơi thưởng thức cho tâm hồn khi họ cần nhớ lại, khi cần thêm thắt một mảng còn thiếu nào đó cho sự hoàn chỉnh nào đó, đại loại như kiểu tâng bốc „lương tâm thời đại“ và chấm hết:
                            Bốn ngàn năm ta lại là ta,
                            Từ trong hang đá chui ra,
                            Vươn vai một cái
                            Rồi ta lại chui vào.
Lẽ nào dân tộc ta tự nguyện mãi mãi chọn sự thua thiệt đó làm tự hào ?
  - Huy Đông hạ giọng -  Theo mình, trong chừng mực nào đó học thuyết xã hội mà chúng mình đang hết sức ca ngợi hiên nay là bài thơ hay nhất trong các bài thơ  tuyệt tác của nhân loại, cậu hiểu không ?
     Nhận thấy câu chuyện có chiều hướng nguy hiểm, cả hai người bỗng ngừng bặt lại . Họ trầm ngâm ưống nước . Đông với tay nhón 1 thanh keo vừng trong lọ thuỷ tinh đặt trên mặt bàn, do nghiêng ngưòi hơi nhiều anh làm rơi phong thư giắt ở túi áo ngực xuống mặt đất đầy bụi. Anh vội nhặt lên. Thấy vậy, anh bạn ai ngại:
-         Sáng nay cậu có thư từ Huế phải không  ? Theo tớ biết thì Ba của cậu không được khoẻ  lắm, cậu có cần về thăm thì chúng tớ bàn nhau giúp đỡ. Bạn bè cùng lớp đừng ngại nhé !
-         Cám ơn cậu, mình cũng đang rất lo lắng. Chắc chắn phải co điều gì hệ trọng lắm thì Ba mình mới cần mình về giũa năm học như thế này.
      Huy Đông rất thương cha mình, một người cha chỉ biết nhường nhịn, hy sinh vì vợ con, một người đàn ông tài hoa nhưng không thành đạt, thiệt thòi và cam chịu. Nên yêu cầu của ông đối với anh lần này là một ngoại lệ do một lí do bất thường nào đó.Và điều làm anh rất ngạc nhiên là lần này ông có viết trong thư :
3 ngày nữa sẽ có một người bạn của Ba đến đón con cùng về, tiền để mua vé xe lửa Ba đã gửi cho chú ấy con không phải lo lắng gì, hãy làm theo lời chỉ dạy của chú ấy   … có vẻ như đây là một mệnh lệnh, một kế hoạch có chủ đích chứ không vì riêng vấn đề sức khoẻ của ông. Người đến đón anh là ai ? sao ông ta lại biết được phòng ở của anh vì địa chỉ gửi thư cho sinh viên trong những năm này ở Việt nam là  kí hiệu mã hoá  lớp học, khoa theo học và trường  nào. Hơn nữa, Ba của anh nếu gửi thư từ Bưu điện Huế, ông hẳn thừa biết, với phương tiện chuyển phát thư ở Viêt nam hiện nay thì ấn định ngày đi tàu cho Huy Đông là không thể  được, vì biết đâu vào cái ngày ông ấn đinh như trong thư, thì lá thư mang mệnh lệnh này vẫn còn lang thang đâu đó mà chưa đến được tay con trai ông, người cần thực hiện lệnh.
-         Đúng rồi đây là một lá thư cầm tay bỏ vào thùng thư của Ban Quản lí Cư xá Sinh viên.- Huy Đông khẳng định sau khi quan sát con tem dán trên phong bì, đúng chỗ ,nhưng không có dấu „giết „ tem của Bưu điên.
     Người chú này chắc chắn trước khi đi Hà nội đẫ gặp trực tiếp hay gián tiếp với cha của anh và họ đã bàn luận gì đó và vạch ra kế hoạch cần đến anh. Chuyến đi Hà nội của người này là nhằm bắt Huy Đông phải về và phải theo kế hoạch của họ. Liệu cha con anh đang bị ép  buộc thực hiện 1 âm mưu nào không ?
     Bât giác Huy Đông nhin quanh, người đó đã đến và biết anh, rồi sẽ cùng anh về Huế trên một chuyến tàu , như vậy chuyến đi Hà nội lần này của ông ta chủ yếu là vi anh. 3 ngày ở Hà nội của ông chú này là để tìm hiểu anh trong trong môi trường học hành và quan hệ với bạn bè. Lí do nào khiến ông ta phải bỏ nhiều thời gian và tiền bạc như vậy ? Có lẽ giờ đây người đó đang ngồi ở chiếc quán cóc khác cạnh đây và theo dõi anh, Huy Đông chợt thấy hối hận về nội dung câu chuyện của  hai người vừa rồi.
      Nhưng chỉ cần 1 phút là Huy Đông thấy yên tâm ngay vì chắc chắn sự việc sắp xảy ra với anh không dính dáng  đến chính quyền vì  3 ngày nữa anh và người đưa anh về Huế sẽ gặp nhau để cùng nhau đi hơn 1 ngày trên tàu. Anh linh cảm rằng, ba anh và những người liên quan có sự tin tưởng ở anh, đánh giá tốt về anh, nên mới cần anh làm một gì đó. Thời gian 3 ngày  tạm thời giấu mặt là việc làm tất nhiên của một con người từng trải và cẩn trọng, 3 ngày để khẳng định tâm lí. Vậy đó là việc gì ?
       Tuy luôn luôn lởn vởn câu hỏi nghi vấn trong đầu, nhưng Huy Đông vẫn cố giữ bình tĩnh để thản nhiên sống trong những ngày chờ đợi. Anh gửi đơn xin nghỉ  5 ngày với lí do về thu nhập tài liệu phục vụ đề tài nghiên cứu Dân tộc học của anh. Nhà trường dã đồng ý. Tất nhiên là anh không để lộ câu chuyện này với ai, dù những người bạn tốt quan tậm hỏi han giúp đỡ.
      Hai ngày sau, Huy Đông lại nhận được 1 lá thư do Ban quản lí trao cho. Không cần mở anh cũng biết chắc trong đó có gì: Môt chiếc vé đi tàu, chuyến 19 giờ tối, Tàu Thống nhât I  Liên vận Hà nội – Thành phố Hồ Chí Minh , toa số 8, cabin  số 8,  giường nằm số 8,. Thế là rõ, người đó đã tin tưởng anh. Ông Ta nằm giường trên 8B,  Huy Đông  nằm dưới. Vị trí chỗ nằm và những con số 8 kì công thật. Đây là những tín hiệu với ý nghia „ tôi tôn trọng anh „ và mọi việc đang „phát“ triển thuận lợi. Vì  Số 8 trong âm Hán - Việt được đọc là „ bát  nói chệch đi thành từ „phát“ trong cụm từ „ phát triển“, 4 lần lặp lại thành dãy số „8888“ được người chơi bài gọi là „tứ tử“ rất may mới có được, hay còn được gọi là „ tứ quí „ghép lại với „ tứ tử „ chỉ lấy 2 chữ cuối được cụm từ „ quí tử „ nghĩa  là „người con trai quí giá „được yêu quí. Một con người thâm thuý và chu toàn, anh thầm thán phục.
 Ga Hàng Cỏ, 18 giờ 10 phút. Huy Đông đã có mặt ở đây từ 18 giờ vì cố tình đến sớm. Xách chiếc Balo con cóc Bộ đội cũ đã được anh lộn mặt trong ra làm mặt ngoài như một loại mốt kì cục của thanh niên Hà nội, Huy Đông đứng khuất  sau một Kios bán linh tinh phục vụ người đi tàu của nhân viên nhà Ga. Anh thích thú với trò chơi: thử nhận mặt trước người  bạn đồng hành để  giành quyền chủ động  làm quen. Nhà Ga rộng lớn lúc nào cũng tấp nập người, hành khách đi tàu, kẻ lấy Ga tàu làm nơi buôn bán, một số ngươi vô gia cư lấy nền nhà ga làm nơi trải bạt nằm ngang nhiên, đủ mọi hạng người mà không một người tử tế nào muốn dây vào. Rác rến vương vãi khắp nơi, không khí hôi hám bẩn thiu. Mùi rác, mùi người và quần áo lâu ngày không tắm giặt, mùi khai nước tiểu phóng uế bừa bãi ngay cạnh lối ra vào. Nóng hầm hập và ồn ào chí choé tiếng la hét rao hàng:
-         Ai nước chè đây !
-         Ai xôi „lóng“ đây!
-         Ai mua bánh chưng đây !
-         Ai vé số đây!
…..
     Đông đang cố quan sát phân tích  tất cả những người đàn ông trung niên trong sân ga,  bỗng giật bắn người nhảy lùi lại thủ thế  theo phản xạ chống cướp giật,móc túi, một tệ nạn vốn đây rẫy ở tất cả những nơi công cộng Hà nội,  vì có người động vào chiếc balo của anh. May quá không phải vậy, Đông  thở dài nhẹ người hẳn ra khi nhận ra người giật giật nhẹ túi của anh là một con bé trạc  8 tuổi bẩn thỉu nhem nhuốc tay cầm chiếc bát nhôm méo mó chìa thẳng vào mặt anh xin tiền, kèm theo đó là tiếng đàn gitar phừng phừng do một người đàn ông đeo kính đen vừa đánh đàn vừa cât lời ca thẽo thượt „..tôi kể bạn nghe, chuyện Lan và Điệp, một tinh yêu ngang trái…“ một lối hát xẩm xin tiền phổ biến ở tất cả các ga tàu  hay bến xe bus ở Việt nam. Bỏ vội mấy xu lẻ vao bát, anh vẫn  không rời mắt khỏi  người  đàn ông  tầm tuổi ngoài 45 ngồi trên ghế trong phòng chờ tàu đọc báo. Môt khuôn mặt trắng trẻo và đầy đặn, cho biết ông là một người sống  nơi mát mẻ. Cặp mắt thông minh nghiêm nghị  pha chút mệt mỏi và những ngón tay trắng thon cắt móng cẩn thận và đôi dép da cài đủ các quai, cho biết đó là một trí thức. Mặc dù chỉ mặc quần âu vải  Oxfort màu cafe sữa thịnh hành và áo sơ mi bằng vải phin KT Viêt nam nhưng quần áo của ông đều phẳng phiu đầy tự trọng. Huy Đông khẳng định đây là người cần gặp, tuy vây anh vẫn chần chừ chờ thêm … Phải rồi, nãy giờ anh không để ý đến thế ngồi của người đàn ông, một thế ngồi không bình thường: hai bàn chân choãi ra hai bên trong khi đó hai đầu gối cố chụm lại gần nhau tạo thành hình  chữ  bát“ số 8:
                                                
 Huy Đông tươi cười tiến đến trước người đàn ông:
-         Chào chú  Kim, cháu là Huy Đông, 
-         Chào cháu , chú là Tôn Thất Kim, bạn của ba cháu - Một lời tự giới thiệu đặc sệt gjọng Huế kèm theo 1 cái băt tay chắc nịch - Một người dòng giõi Hoàng tộc, một võ sư  Karaté  đồng hương,  đồng môn  phái  với mình.
- Huy Đông  nghĩ thầm.
-     Cháu xách cái gì vậy ? Ông Thuyên chỉ tay vào chiếc túi – Balo của Huy Đông, anh liền vui vẻ  đưa  tay trái có xách chiếc túi về trước mặt rồi giơ cao lên, giới thiệu:
-   Tài sản kỉ niệm một thời lính tráng của cháu đấy.Trông có vẻ „ bụi „nhưng rất tiện lợi và an toàn, kẻ cắp nhìn thấy là ớn luôn. Thế hành lí của chú đâu ?
-  Cũng chẳng có gì nhiều, mình dã nhờ người trông hộ trên tàu,
-  Ông  ấy đã lên tàu rồi lại quay ra đây. Thế là, sự chủ động vẫn không thuộc về mình - Huy Đông thán phục , đành nói:
- Chú cháu mình lên tàu thôi !
-  Khoan đã cháu, chú muốn biết vì sao cháu nhận được chú và lại còn biết được tên chú vì ba cháu đồng ý không giới thiệu trước về chú với cháu rồi mà !
Huy Đông nói nhỏ:
-         Chú chờ cháu 1 tí !
Anh cho tay vào túi lấy ra cây bút Bic viết vào lòng bàn tay mình năm con số 8 thành một dãy số liền nhau: „ 88888“ rồi chìa ra cho ông Kim xem. Nhìn thấy dãy số, ông Kim mỉm cười tỏ vẻ hài lòng.
 Dãy số trên được gọi là „ ngũ tử „ hay được gọi là „ ngũ bát đồng hành“ nghĩa là năm con tám cùng đi với nhau, chỉ có một nghĩa đen, nhưng chỉ lấy chữ đầu và chữ cuối ghép lại thành „ ngũ hành „ thì nghĩa của nó gói hết Vũ trụ lại theo quan niệm Kinh dịch trong Triết học của Phương Đông : Vũ trụ bao la được tạo nên bởi  5  thành phần cơ bản là  Kim ( kim loại), Mộc (gỗ), Thủy (nước), Hoả (lửa), Thổ (đất) gọi là“ ngũ hành“. Qua phong thái của ông chú mới quen, Đông đoán chắc rằng ông phải nắm mệnh đứng đầu ngũ hành và tên là Kim.
   Hai chú cháu tiến về cửa soát vé trong khi  loa phóng thanh  của nhà ga vang vang tiếng nói khê nồng, mệt mỏi của nữ phát thanh viên:
-         Hành  khách đi tàu chú ý ! chuyến tàu Thông nhất  I chỉ còn 5 phút nữa sẽ khởi hành, đề nghi hành khách khẩn trương lên tàu thật trật tự không chen lấn nhau để tránh kẻ cắp lợi dụng ăn cắp hành lí…!!
Ông Kim lẩm bẩm:
-         Chỗ nào cũng nhắc nhở kẻ cắp. Sao mà đất nước này nhiều kẻ cắp quá vậy ! Đúng là „Bần cùng sinh đạo tặc“.
Huy Đông nghe vậy mà xót xa trong lòng.
     Tàu hoả liên vận Bắc  Nam là đoàn tàu hiện đại nhất của Việt nam lúc này,  nó được nhập về từ  một nước Xã hội chủ nghĩa anh em nào đó. Các toa xe sơn xanh thẩm với  dãy cửa sổ 2 lớp có thể kéo lên hẳn phía trên, lớp trong bằng Mica dày trong như 1 tấm kính, lớp ngoài đóng bằng gỗ thông xếp vẩy cá để thông gió ngay cả khi hạ hẳn xuống vì trong toa xe không có máy điều hoà nhiệt độ và cũng không có quạt chống nóng. Ghế ngồi của hành khách là những băng chung cho 3 người ngồi gép bằng những thanh gồ thông sơn màu cánh gián bản rộng chưng 1 cm kiểu ghế ngồi trong công viên, chỉ khác là được đóng kiểu chung lưng tựa cho 2 dãy ghế ngược chiều ngồi. Mặt ghế dùng lâu ngày lên nước bóng loáng nhưng các kẽ gỗ của nó thì đen kịt bẩn thỉu. Nhiều lần đi tàu Huy Đông không  thể ngồi yên được, khổ sở ngọ ngoạy vì bị rệp sống thường trực trong các kẽ gỗ đó tấn công. Việc làm đầu tiên của anh khi về đến nhà sau một chuyến đi tầu là lao ngay vào buồng tắm và tống hết quần áo vào một chậu nước đun sôi để diệt rệp.
  Toa tàu có giường nằm thì tốt hơn vì giá vé đắt gần gấp đôi vé toa ngồi, tuy vậy cũng chỉ khác hơn về việc phân thành cabin cho 2 cặp giường tầng bằng gỗ liền không bọc nệm, tuy có chăn và gối, nhưng mức độ sạch sẽ  cua chúng thì rất đáng ngại. Không có cửa, cabin thông thẳng ra hành lang nên người nằm cứ tênh hênh ra vậy, rất bất tiện cho các bà các cô đi tàu đường xa.
  Giờ đây Huy Đông đoan chắc ông Kim là một Việt kiều – như cách gọi thịnh hành của người Việt dành cho những Việt nam sinh sống và cư trú ở nước ngoài - về thăm quê hương. Vậy sao ông không đi bằng đường Hàng không Hà nội – Phú bài (Huế) mà lại đi bằng tàu hoả , với đầy rẫy những bất tiện ? Vì lí do tiền bạc chắc chắn là không phải, kể cả cho Huy Đông cùng đi, chi phí cho Đông về Huế chắc chắn không phải của ba anh, như  ông cụ đã viết trong thư. Vậy chỉ có thể cắt nghĩa rằng, ông Kim chấp nhận khổ cực là vì kế hoạch nào đó của họ.Theo phỏng đoán của anh thì khung cảnh chật hẹp trong cabin giường ngủ suốt hơn một ngày đêm đi tầu khiến người ta gần gũi nhau hơn, bộc lộ cá tính và thói quen đời thường hơn, và nhất là ông muốn  thẩm tra vốn tri thức cũng như quan điểm về mọi mặt của Huy Đông thông qua thảo luận , mà nội dung đã được chuẩn bị trước ,trên tàu. Nhận thức đươc điều đó, anh biết mình cần thận  trọng khi chưa biết được đối tượng là ai và cần gì ở mình.
    Huy Đông theo ông Kim lên toa giường nằm, chật vật lách qua đám đông lộn xộn trên hành lang tiến về cabin số 8, trong đó đã có hai người. Ngồi ở giường dưới phía bên trái là một bà lão tóc bạc trắng , mặt đầy nếp gấp của thời gian nhưng không xoá được nét chân chất phúc hậu của một người mẹ một thời xuân sắc đặc trưng ở các làng quê châu thổ sông Hồng. Tuy bộ quần áo  bà ba bằng vải lụa màu mỡ gà cắt may rất khéo lại có viền đăng ten quang cổ áo hình trái tim theo mốt đang thinh hành ở Sai gòn tạo cho bà sự sang trọng , nhưng  Huy Đông vẫn nhận thấy sự kham khổ của một thời dã qua ở bà lão, những đứa con trưởng thành thành đạt ở xa quê trả hiếu cho mẹ, muốn cho mẹ biến thành như vậy, nhưng đất quê lề thói nông thôn vẫn níu kéo bà lão qua tác phong quê mùa chất phác, qua đôi bàn chân nứt nẻ trong đôi dép nhựa đúc dối màu tím sẫm, qua những thứ bà bày biện trên giường: túi cơm nắm muối vừng, chiếc hộp tre mở nắp lộ rõ những quả cau tròn trịa, lá trầu xanh thẫm che nửa lọ vôi xinh xinh và đầy đủ hơn là cả một binh tích đựng nước vối đặt trong giỏ ấm ủ, loại thường chỉ đặt trên mặt bàn của bộ Tràng kỉ bằng gỗ kê ngay ngắn dưới tủ thờ gian giữa trong các ngôi nhà nông thôn miền Bắc. Đủ đầy cho một chuyến đi thăm con cháu nơi xa ngái của một bà lão nông thôn. Dựng cạnh ấm nước uống  gần góc khuất của giường bà lão là một chiếc Vali nhỏ loại mà Huy Đông thường thấy các nhân vật quan trọng xách kè kè trong các phim phương Tây, sang trọng và bí ẩn. Anh đoán ngay được chủ nhân của nó chính là ông Kim.
    Trên giường trên, là một người đàn ông trạc 50 tuổi với mái tóc muối tiêu để dài  cố ý che bớt vâng trán hói -  ông ta đã kịp thay cho mình bộ Pysama kẻ sọc tạo sự thoải mái khi đi tàu đường xa -  đang nửa nằm nửa ngồi đọc 1 cuốn  sách dày với trang bìa nổi lên hàng chữ màu đỏ sậm „ Từ điển Viêt nam - Bồ Đào Nha „ . Lại một Giáo sư sắp đi lao động chuyên gia châu Phi, Huy Đông  nghĩ  thầm, chất xám của đất nước đang bị bán đi một cách rẻ mạt qua những hợp đồng kì cục: các Tiến sĩ, Giáo sư đầu ngành ở các trường Đại học Việt nam chấp nhận sang Châu Phi lạc hậu để dạy ở các trường Tiểu học, Trung học bằng tiếng Pháp, tiếng Bồ Đào Nha chỉ vì ở đó người ta trả lương bằng đola. Một người đứng tuổi học tiếng Bồ chỉ có thể vì mục đích đó mà thôi.
 Ông Kim chào hai người trong cabin theo lối họ đã làm quen với nhau rồi, quay sang phía Huy Đông:
-         Đây là bà Na, người Hải dương , đi thăm gia đình người con trai cả ở Sài gòn. Còn đây là Tiến sĩ Sinh học Nguyễn văn Đức vào Huế thỉnh giảng. Và đây là cháu Lê Huy Đông , Sinh viên Cao học  con của một người bạn của tôi sẽ là người đồng hành của chúng ta. Chú cháu tôi  chính thức mới làm quen với nhau cách đây 15 phút, nhưng tôi thì biết về cháu Đông cũng đã lâu.
-         Cháu chào Bà ! Cháu chào chú !
Đông nghĩ về câu nói  của ông Kim, một câu giới thiệu khôn khéo, không thân mà cũng không quá xa cách. Nếu khi hai chú cháu trò chuyện hay thảo luận nếu giữa họ lộ ra là chưa biết nhau thì không gây sự tò mò  hay ngạc nhiên của hai người bên cạnh.
-         Chào cháu ! Cháu ngồi xuống đi! Giời lóng quá , lếu cháu thích thì cháu kéo cao cửa sổ hơn nên chomát.
Bà cụ nói với Huy Đông với lối phát âm ngọng „l“ „n“ của dân Hải dương, Hải Phòng.
-         Vâng ạ. Đông đặt chiếc Balô xuống mép giường.
-         Chào anh! - Tiến sĩ Đức hơi rướn người cúi xuống bắt tay Huy Đông- Anh học ở trường nào ?
-         Dạ cháu học ở Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà nội.
-         Thật đáng tiếc tôi không cùng trường với anh, tôi dạy môn Sinh thái học Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà nội mạn Cầu giấy, nhưng nhà riêng của tôi thì ở khu Tập thể Thanh Xuân gần trường anh đấy.
-         Dạ ! Cháu có biết.
-          Thế công tác ở đâu ? Trong Huế hay ở Hà nội ? - Tiến sĩ Đức chuyển sang cách nói chuyện có chút suồng sã hơn, gần gũi hơn.
-         Dạ ! Cháu dạy ở khoa Sử , Đại học Huế. Thế chú vào thỉnh giảng trương nào trong đó ?
-         Tôi vào Sư phạm và Phú lộc,
Đông ngạc nhiên:
-         Phú Lộc ? Chú vào Huyện Phú lộc để làm gì ?
Ông Đức mỉm cười:
-         Ở đó có một cánh đồng bị nhiễm phèn nặng bị bỏ hoang gần chân đèo Phú gia, chỉ có cây tràm và cỏ dại  mọc được,danh từ chuyên môn gọi là Savan. Huyên Phú lộc  muốn cải tạo nó và tôi là một nhà Sinh thái học được hỏi ý kiến.
-         Ô tốt quá, chúc chú thành công.
-         Cám ơn anh,  nhiệt tình thì có nhưng thành công thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố không theo ý của nhà khoa học đâu cháu ơi.
-         Dạ cháu hiểu.
      Ban đầu Huy Đông định hỏi Tiến sĩ Đức về việc ông sẽ đi chuyên gia nước nào mà phải học tiếng Bồ, bây giờ anh  cũng hiểu:  nêu vấn đề ấy ra sẽ là sự động chạm vào nỗi đau của ông và những người như ông. Trong hoàn cảnh Đất nước hiện nay sự lựa chọn giữa sự nghiệp khoa học, lòng tự trọng của người có học vấn cao, với  một bên là trách nhiệm chăm lo cơm áo cho gia đình là  một sự lựa chọn phi lí, bất đắc dĩ    đầy khó khăn. Anh nghe nói, mỗi tháng các giáo sư chuyên gia thu về cho cho mình chỉ chừng 50 Dola, và 6 tháng ki cóp nhịn ăn ở xứ người sẽ gửi mua  để chuyển về Viêt nam cho gia đình  mình 1 chiếc xe máy Honda Cub đã qua sử dụng của người Nhật.Một niềm kiêu hãnh cho vợ con có được từ sự phung phí chất xám, từ sự đoạ đày trí tuệ.
       Ông Kim từ buồng vệ sinh trở về với một bộ đồ thể thao gọn gàng trong khi đoàn tàu đã chuyển bánh chạy từ từ dọc đường Nam bộ, con đường tấp nập xe đạp xe máy. Thời kì này là thời ki chuyển tiếp từ nền văn minh xe đạp sang văn minh xe máy ở Việt nam, xe máy thể hiện tính vượt trội của mình bằng tiếng còi bấm inh tai vô tội vạ. Trước thanh chắn ngăn cho tàu chạy qua Kim Liên - Đại Cồ Việt dòng người xe bị tắc lại ứ tràn ra như dòng lũ bị ngăn tràn lên bờ, ở giữa dòng bồng bềnh đơn độc như một chiếc thuyền nan mỏng manh thô kệch là 1 chiếc xe du lịch 4 chỗ ngồi của Liên xô hiệu Maxcôvich chở mấy khuôn mặt  Ivan , chắc là về khu nhà ở Ngoại giao đoàn Kim liên gần đấy.
     Công viên Thống nhất vắng lặng trong bóng hoàng hôn làm Huy Đông chợt xao lòng nhớ về mối tình đầu chưa lúc nào chết hẳn trong anh. Chính trong công viên này, cũng trong một hoàng hôn yên ắng anh lần đầu tiên rụt rè cầm tay một người con gái. Để rồi cô lìa xa anh sau đó chỉ  vì một lí do mà anh không bao giờ thay đổi được nó, vì không ai chọn được nơi chôn rau cắt rốn cho mình. Và cuộc tình không thành do những đinh kiến phi lí mà tiếc thay lúc giờ đây nó hoành hành như một triết lí sống thực dụng đắc địa, để lại trong anh một vết sẹo truyền đời.
     Bà Na bày mo cơm trên chiếc bàn nhỏ cạnh cửa sổ. Mùi cơm gạo quê thơm phức trọn với hương thơm của muối  vừng quá là quyến rủ những thần dân của đất nước lúa gạo lại không đủ ăn nước Việt như anh,  và Huy Đông  lại là kẻ trung thành cố hữu nhất vì rất háu đói. Đói cơm là anh bủn rủn chân tay không thể làm gì được. Thửa còn bé phải vào rừng kiếm gỗ, có 1 lần, mẹ anh phải nhờ người đi cùng vào tận rừng sâu tìm anh lúc đó đang gục bên bờ suối vi quá đói vào lúc trời đã đổ tối.
-         Mời các chú xơi cơm với tôi !
-         Cám ơn bà, chúng tôi đã ăn trước khi lên tàu, chúc bà ăn ngon.
Ba lão quay sang Huy Đông , đẩy mo cơm về phía anh:
-         Ăn với bà đi cháu ! Bà biết cháu đói rồi, trai trẻ đi học xa nhà thì sao no được trong cái lúc“ gạo châu củi quế“ này. Ăn đi cháu ! Đừng khách khí !
Trước một lời mời thơm thảo như thế, Đông rất cảm động. Anh chậm rải ăn cùng bà cụ. Ngon quá.
-         Thôi bà ăn tiếp đi, cháu chỉ xin bà thế thôi. Cám ơn bà !
    Nhấp 1 ngụm nước vối nóng hổi trong chiếc chén sứ bà Na trao cho, Đông tận hưởng cái thơm ngon của hương vị nông thôn Bắc bộ. Không khác gì anh đang ngồi dưới gốc đa đầu làng,  mắt nhìn ra thảm lúa xanh mướt mà mình vừa nhổ cỏ bón phân  cho nó, miệng uống cốc nước vối  nóng hổi và mình đắm trong làn gió mát tạo ra từ chiếc nón lá phe phẩy trên tay mẹ mình. Thanh bình và hạnh phúc. Anh buột miệng:
-         Cám ơn mẹ !
Ba lão mắng yêu:
-         Sao lại cám ơn  nhiều vậy cháu ! Người quê mùa như bà chỉ cần 1 lần là đủ rồi.
Nhìn bà lão têm trầu trong bóng tối nhập nhoà, Huy Đông nói:
-         Bà để cháu têm cho !
Bà cụ ngạc nhiên:
-         Cháu biết têm trầu ?
-         Vâng ạ, mẹ cháu  cũng nghiện trầu, lúc còn bé ở nhà với mẹ, cháu vẫn được mẹ cháu cho một miếng trầu ăn cho thơm miêng sau bữa ăn. Cháu biết bài thơ  Mời trầu „ của bà Hồ Xuân Hương là do mẹ cháu đọc cho nghe từ tấm bé.
Ông Kim nãy giờ vẫn theo dõi câu chuyện của hai bà cháu, bỗng chen vào:
-         Chú cũng biết bài thơ này, cháu thử bình nó cho mọi người nghe xem nào !
-         Tôi cũng thích nghe ý kiến của nhà dân tộc học về bài thơ nổi tiếng này - Tiến sĩ Đức hưởng ứng – nhưng mà phải ngắn gọn và độc đáo đấy !
Mấy ông này thử mình đây, nhưng không sao !- Huy Đông tự nhủ.
-         Vâng cháu xin thử:
                       Trái cau nho nhỏ, lá trầu hôi
                        Này của  Xuân Hưong đã têm rồi
                        Có phải duyên nhau thì thắm lại
                         Đừng xanh như lá, bạc như vôi.

     Đây là bài thơ nghe qua như là một lời mời trầu thông thường của một người con gái ngồi nghé chân bên mép chiếu hội làng  được trải ra dành cho các bà các cô. Mời trầu người ta bê bằng hai tay một khay nhỏ và không chỉ có một miếng duy nhất  mà nhiều miếng giống nhau danh cho nhiều người đi hội, vậy bài thơ diễn đạt một yêu cầu triêt lí sống có nghĩa có tình như ý nghĩa của chuyện cổ tich „Sự tich trầu cau“ cho tất cả mọi người.
   Nhưng nếu chỉ như vậy thì xoàng quá và không phải là thơ của bà như đã xưng hẳn danh tính của mình trong câu thứ hai. Ở đây phải có sự tinh nghịch nữ tính nào đó rât Xuân Hương như trong các bài thơ khác của Bà.
   Đọc câu thơ đầu, câu „khai“, của bài thơ ta có thể hình dung được một người con gái, Xuân Hương, mới dậy thì,vì với nữ tính như  Xuân Hương mà lớn tuổi hơn thì phải nở nang sung mãn hơn chứ không còn bằng“ chủm cau“ như vậy. Chỉ có người con gái mới lớn mới nhìn cái nơi nữ tính nhất của mình thay đổi đột ngột lạ lẫm hàng ngày với cái nhìn hơi rẻ rúng một tí như một lá trầu „hôi“. Nhưng dù gì thì gì đó là của em chứ không phải của ai khác , đối với riêng em thì nó là hoàn chỉnh rồi , dùng được rồi: đã „têm“ sẵn rồi, sẵn sàng rồi.
    Xuân Hương đã yêu và cũng được yêu lại, vì không cô gái nào có học thức như bà lại đi chào mời dâng hiến cho người chưa có tình cảm với mình về một việc hệ trong nhất đời người con gái như vậy là không bao giờ. Nhưng người bạn tình cũng đang trinh trắng như nàng lai rất bỡ ngỡ sợ sệt, thích lắm rồi nhưng lại không đủ cam đảm vì người ta đồn rằng:
                                Chốn ấy hang hùm, chớ mó tay.
   Nhưng Xuân Hương lại khuyến khích „ nếu trời đã quyết“ chúng ta là của nhau rồi thì xin anh cứ việc, em đã sẵn lòng rồi, đừng phụ long em mà bỏ đi. Như vậy thì bạc bẽo lắm, xanh vỏ đỏ lòng lắm.
  Cần nhấn mạnh rằng,  cũng rất có thể bài thơ này được xuất ý rồi thành tứ trong giấc ngủ,  và chỉ là một giấc mơ bạo nghịch của một thiếu nữ kháo khat tình yêu Hồ Xuân Hương trong một đêm hè nóng bức. Trong giấc mơ ngưòi ta có thể buông thả hết mình, khao khát bản năng hết mình với một người yêu không có thật. Tình yêu chỉ có xác thịt là tình yêu bản năng thấp kém ,nhưng tình yêu không  có xác thịt không phải là tình yêu trọn vẹn. Xin hết ạ !
 Bà lão Na là người lên tiếng trước tiên:
-         Cháu nói về bài thơ này của Hồ Xuân Hương theo cách đó bà thấy ghê gớm quá, bạo dạn quá. Thời con gái nhà quê của bà không được phép thầy u thi đừng hòng ra khỏi nhà chứ nói gì được yêu đương dâng hiến ngay lúc mới dậy thì.
-         Nhưng cháu hỏi thật nhé, lúc chưa lấy ông, bà có lúc nào mơ thấy mình ái ân chưa ?
Bà lão lúng túng lãng tránh làm Huy Đông ân hận với câu hỏi sỗ sàng không đúng đối tượng của mình:
-         Cháu ơi, thời của bà khác với thời bây giờ của các anh các chị lắm, với lại lâu quá rồi bà chẳng nhớ được đâu.
Ông Kim đỡ lời cho bà cụ:
-         Vâng thời thế chuyển đổi nhanh lắm, đến như giữa 2 thế hệ của chúng tôi so với cháu Đông đây cũng khác nhiều rồi. Chúng tôi không bạo liệt và thẳng thắn như chúng nó. Theo một số chuyên gia kinh tế và xã hội nước ngoài, thì cũng chỉ vài năm nữa thế giới sẽ thay đổi một cách ghê gớm về khoa học kĩ thuật, về chính trị  cũng như kinh tế. Cả một hệ thống tưởng sẽ vĩnh viễn tồn tại và phát triển đến thế giới đai đồng lại sẽ sụp đổ theo phản ứng dây chuyền, cháu sống ở nước ngoài nên mới thấy sự chuẩn bị rầm rộ cho thời kì hậu chiến tranh lạnh.
Ông Đức cũng đã ngồi hẵn dậy góp thêm:
-         Gorbachop đang tiến hành cải tổ, những người bạn tôi đi công tác bên đó về cho biết là không khả quan lắm vi thiếu lực lại phải gánh đỡ cho tất cả các nước anh em. Kinh tế bao cấp đã và đang làm trì trệ sự phát triển của cả hệ thống cũng như trong nội bộ từng nước anh em. Chúng tôi được một giáo sư có tiếng tăm đi Nhật về nói rằng ,bạn bè bên ngoài khuyến cáo chúng ta về một sự thay đổi lớn lao sắp đến trong long đất nước ta, sẽ có những đảo ngược về hệ thống khái niêm hiện hành. Quan hệ giữa người với người sẽ chuyển dần sang chuẩn mới khác hơn. Có những cái chúng ta hiện nay chưa có thì ngày mai sẽ có, có những cái hôm nay là đột biến nhỏ nhặt ngày mai sẽ được chọn lọc tự nhiên nâng lên thanh phổ biến. Qui luật chuyển dịch phân bố chuẩn student với đồ thị hinh chuông sắp đến sẽ lệch chuẩn rất nhiều.
Mãi lắng nghe ông Đức nói, Huy Đông giật mình khi bị ông Kim đập nhẹ vào vai:
-         Qua sự phân tích của cháu về bài thơ của Hồ Xuân Hưong , chú thấy hình như cháu cho rằng người phụ nữ Việt nam mạnh bạo hơn, chủ đông hơn nam giới trong cùng một trang lứa thì phải ?
Ông này khôn khéo thật, giả vờ vô tình gợi vào vấn đề chính trị cho mọi người tham gia bộc lộ quan điểm, nhưng khi mục đích đạt được rồi thì  ông lại ngay lập tức chuyển hướng sang lĩnh vực khác  đỡ nguy hiểm hơn. Tuy vậy anh cũng thấy cần thiết phải như vậy, và anh cũng tiếp tục một cách tự nguyện:
-         Ý tưởng trong một bài thơ đơn lẻ chưa phải là  đặc điểm chung cho cả dân tộc. Sự khao khat tình yêu của  tất cả giới nữ, sự ham muốn khám phá cái mới của phái nữ, theo cháu nghĩ có sự khởi nguồn từ mối quan hệ giữa Adam và Eva  như câu chuyện trong Kinh thánh đã kể, nếu không có bà tổ Eva kích động phạm tội thử trai táo cấm thì  anh đàn ông Adam cứ ngốc nghếch và lười biếng sống vạ vật mãi trên thiên đường sung sướng nhưng hoàn toàn vô vị. Rõ ràng tuy sinh sau đẻ muộn từ mấy rẽ xương sườn của Adam, chúa tạo ra Eva để làm bầu bạn với anh chàng độc thân Adam, nói thô ra là làm đồ chơi cho 1 tay đàn ông vô tích sự. Nhưng Eva  thông minh hơn, kẻ thông minh mới ham nhận thức, tò mò. Chính trí tuệ đàn bà đó  đã kéo Adam phạm tội, rồi dắt anh ta dấn thân vào cuộc phiêu lưu trên mặt đất đoạ đầy này. Con người khi khổ đau thì trách cứ oán thán tổ phụ của họ, nhưng vẫn khiếp sợ hơn nhiều nếu cứ theo ông tổ Adam cưộc sống vô nghĩa. Cuộc đời vô nghĩa đáng sợ hơn nhiều lần cuộc sông lầm than khổ cực.
Tiến sĩ Đức lại nhảy vào cuộc:
-         Trong cuộc sống bầy đàn của đông vật, con cái có ý nghĩa hơn con đực rất nhiều, dường như chọn lọc tự nhiên tạo ra con đực chỉ nhằm hoàn thiện ý nghĩa sinh sản hữu tính làm phong phú kiểu gen hơn cho loài. Nhiều bằng chứng sinh học cho thấy rằng: con đực không được tôn trọng cho lắm.
+ Một số loài đông vật  tuy là hữu tính sinh sản nhưng lại có khả năng sử nữ sinh, khi thiếu con đực thi tự nhiên 1 số con cái biến thành con đực.
+ Một số loài nhện con cái liền ăn tươi nuốt sống con đực ngay khi vừa hoàn thành cuộc giao hoan, mà các chàng Ađam vẫn tự nguyện hiến dâng.
+ Một số loai cá, anh chồng tự nguyện thoái hoá trở nên 1 cái vật bé xíu bám kí sinh cạnh lỗ sinh dục của con cái.
+ Trong bầy đàn động vật cao cấp số luợng con cái luôn có chỉ số ổn định, còn số lượng con đực liên tục bị hao hụt do đánh giết lẫn nhau vì nhiều lí do nhiều khi rất vớ vẩn. Như vậy con cái mới quyết đinh sự tồn vong của loài.
     Còn tính chủ động của nữ giới ở con người thì cũng hợp lí thôi vì 3 lí do chính:
+ Một là: Cường độ  nhu cầu tính dục ở phụ nữ  các ngày trong tháng là một đò thị biến đổi có 2 đỉnh cao ở những ngày sau khi hết và trước khi có hiện tương rung trứng , còn trong những ngày bình thường thì nhu cầu hoạt động tính dục vẫn bằng ở đàn ông vốn không biến đông lắm, nghĩa là các bà vẫn  hưng phấn đầy đủ khi được kích thích đúng cách.
+ Hai là: Do thiên chức làm mẹ duy trì nòi giống, muốn cho con cái khỏe mạnh và con cái của bà ta sẽ có khả năng sống sót cao hơn  khi có sự cộng tác  gánh vác trách nhiệm của người cha, phụ nữ chủ động lựa chọn bạn tình  và hoạt động tính đục theo mục đích cụ thể, chứ không như đàn ông không cần mục đích vẫn tiến hành không cần kén chọn, họ bị động trong bản năng phát tán  nòi  giống càng nhiều càng tốt và quên ngay bạn tình sau khi thực hiện xong hoạt động tính dục nếu có thể.
+ Ba là: Trong 23 cặp nhiễm sắc thể trong nhân tế bào Soma của con người, cặp thứ 23 là cặp quyết định giới tính. Ở phụ nữ đó là XX , trong khi đó ở đàn ông nó là XY. Nhiễm sắc X có chứa gen như các nhiễm sắc  thể bình thường khác, còn nhiễm sắc thể Y chỉ là một khúc ngắn chứa ít gen hơn. Như vậy cuộc sống thể xác cũng như tâm hồn cua người phụ nữ phong phú và phức tạp hơn người bạn tình của họ khi cùng lớn lên trong một hoàn cảnh sống như nhau vì họ có nhiều tính trạng giới tính được mã hoá trong gen hơn.
  Ông Kim  khai thác ý tưởng của Tiến sĩ Đức:
-         Như vây, hai chú cháu củng cố một kết luận là tính nữ có vai trò chủ động trong phát triển loài người, tính nữ năng động hơn nhạy cảm hơn trong cuộc sông lứa đôi. Theo tôi được biết trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, đã có những gia đoạn dài tổ chức bộ lạc và gia đình là tổ chức theo lối mẫu quyền, nghĩa là người đàn bà  là người có quyền lực nhất trong bộ tộc hay trong gia đình. Hiện nay vẫn còn nhiều bộ tộc ở châu phi hay châu nam Mĩ vẫn theo mẫu quyền. Bây giờ chúng ta xem thử  ở dân tộc Việt, tính nữ có vai trò như thế nào trong suốt lịch sử phát triển 4 ngàn năm. Cháu Đông, cháu là nhà Dân tộc học, cháu cho biết ý kiến của cháu như thế nào trong hướng khai thác này ?
-         Vâng, cháu sẽ bắt đầu bằng truyền thuyết khởi nguyên dân tộc Việt, truyền thuyết Âu cơ và Lạc long quân, đó là hai vợ chồng Rồng Tiên rất đẹp đôi và sung mãn : Âu cơ có linh khí là loài chim trên thiên giới – chim Lạc - cổ cao với cái đầu xinh đẹp có chùm lông vươn cao, bộ ức nở  nang , cặp đùi thuôn dài khoẻ mạnh và duyên dáng,  cặp cánh sải dài vững chãi:
                                       

Lạc long quân là một dũng tướng nhà trời có linh khí là loài Rồng mình dài khoẻ phủ đầy vẩy cứng lấp lánh ánh vàng bạc, 4 chân có móng vuốt to sắc là vũ khí lợi hại, cặp mắt to sáng quắc bên hài cánh mũi to rất đàn ông tạo nên 1 chiếc đầu dữ tợn nhưng hơi có chút  hung dữ võ biền.
     Họ yêu nhau và quyết định xuống trần giới tình tự, bay luợn hồi lâu họ chọn được một mảnh đất xinh đẹp có bờ biển cong cong màu mỡ hướng ra biển  Thái bình làm nơi hạ cánh và ở lại. Sau một thời gian Bà Tiên Âu cơ đến kì mãn nụ khai hoa sinh hạ được một chiếc bọc chứa 100 quả trứng và sau đó nở ra đuợc 100 người con, trai và gái đồng đều. Cùng nhau chăm bẵm nuôi dưỡng cho đến khi các con đã cứng cáp lớn khôn, hai vợ chồng biết rằng thời hạn  được phép ở lại hạ giới của họ sắp hết, các con phải biết sống tự lập không có họ thương xuyên bên cạnh. Vậy là, Bà mẹ Âu cơ mang 50 người con lên phía những cánh rừng đại ngàn và nhưng cao nguyên mênh mông  để huấn luyện lập nghiệp, còn 50 người con thì theo cha Lac long quân xuống phía biển Đông quanh năm sóng vỗ học kế  mưu sinh. Đây là một kế hoạch thông minh nhưng đầy tính nhường nhịn của người đàn bà biết lo xa và thực tế. Lạc Long Quân là Rồng, thuộc loài rắn thân nhiệt phụ thuộc vào môi trường, có mệnh Thủy thích hợp với vùng đồng bằng ven biển và biển, nơi có nhiều thuận lợi cho ông sinh sống mà chỉ cần phát huy một it trí tuệ và sở trường vốn có của mình là được. Nhưng vùng đất đó không ổn định bền vững   vì luôn luôn xảy ra thiên tai bão lụt hạ hán, với lại tuy có thể xác định được ranh giới lãnh hải bằng thềm lục địa, nhưng không rõ ràng chi tiết được, dễ bị nước khác lấn chiếm xâm nhập mà tranh cãi pháp lí  thường rất khó khăn để nắm chắc phần thắng, nhất là đối với những nước nhỏ và yếu. Biển là nước, nước biển không có tính sở hữu cao, ta không tắm  được hai lần trong cùng 1 làn sóng biển. Nguồn lợi hải sản từ biển khơi cũng vậy. Nhận thức rõ điều đó Bà Âu cơ quyết dẫn một nửa số con thân yêu của bà tiến về hướng tây, hướng về những dãy núi nhấp nho phía chân trời như những  mũi chông đầy bí hiểm gian nan. Họ vừa đi vừa khai phá những vùng đất lạ lẫm, hoang sơ chưa in dấu chân người, họ kiếm miếng ăn bằng cách tự mình hoàn thiện phương pháp  và công cụ săn bắn hái lượm, rồi tiến dần đến nuôi trồng chủ động. Con cháu của bà Âu cơ trở nên nhưng con người khoẻ mạnh, quả cảm và thông minh. Những hành động thành công của họ la kết quả của những quyết đinh nhanh chóng đầy sáng suốt. Sông núi trường tồn là nơi bà Âu cơ và con cháu bà lấy nơi dựng xây và  khẳng định cốt cách  linh hồn của dân tộc , làm nền tảng bền vững cho tổng thể phát triển của toàn dân tộc Việt thống nhất. Người phụ nữ Âu cơ truyền cho con cháu  cả  lòng yêu thương, tính nhân ái, độ lượng , đức hy sinh và tính nhẫn nại dầy nữ tinh của bà, đức tính của loài chim mệnh Thổ , chim Lạc, lòai chim huyền thoại không lúc nào vắng bóng trên mặt trống đồng  một khí cụ linh thiêng nhất trong đời sống xã hội của người Việt cổ:

                               

                                     
   Như vậy có thể nói rằng, linh khí của dân tộc Viêt nam là linh khí mang tính nữ. Quan niệm và tập tuc trọng nam khinh nữ là do người Trung quốc cố gắng đưa vào cho dân tộc Việt thông qua một loại triết lí sống và xử thế kiểu Khổng giáo nhằm lấn át và đè bẹp linh khí gốc của dân tộc ta, biến chúng ta mãi chấp nhận là dân tộc nhược tiểu nô lệ, yếm thế.
 Bà lão Na mỏ nắp chiếc hộp nhỏ, nhè bỏ miếng bã trầu vào đó rồi đây lại một cách cẩn thận rồi mơi từ tốn nói:
-         Cháu Đông nói vậy, bà thấy có lí quá. Bà không biết nhiều, nhưng bà thấy lịch sử nước Nam ta lúc nào cũng dính dáng đến tên tuổi của một người phụ nữ nào đó khi dân tộc cần sang trang lịch sử của mình. Này nhé, khi mà tình cảnh đất nước ù lì nhu nhược đến độ tên Thái thú Tô Định , một chức quan nhỏ thôi của bọn Tàu, muốn bắt ai, giêt ai là người Việt cũng được thí hai chị em nữ giới Trưng Trắc và Trưng Nhị đông lòng khỏi nghĩa đánh đuổi bọn chúng . Đặc biệt là trong đội quân khởi nghĩa có rất nhiều tướng lĩnh và nghĩa binh mặc váy, như nữ tướng Lê Chân chẳng hạn. Cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh ở Thanh hoá cũng vậy, một người con gái dám tuyên bố chí khí của minh là:
        „Ta muốn cầm gươm sắc, cười trên cơn sóng dữ, chém hết cá Kình biển Đông.“
  Bà đã cưỡi voi , vung cao gươm lệnh dẫn đầu nghĩa quân, đuổi giặc xâm lược chay tung cán tàn. Tuy các bà không thành công , nhưng  khởi nghĩa của các liệt nữ đó là ngòi pháo lệnh khởi xương cho hàng loạt khởi nghĩa khác đi đến thắng lợi - Nghỉ 1 tí bà nói tiêp:
-          Hai chú và cháu Đông chắc không biết, chứ Bà hay đi lễ chùa, lễ thánh, bà thấy nhiều thánh bà thánh cô hơn là thánh ông,và các Thánh bà thường linh thiêng hơn các Thánh ông.
Ông Đức vui vẻ phụ hoạ:
-         Nhiều địa danh đặc biệt trên khắp đất nước ta cũng mang tên các bà như tận cực bắc Việt nam ta có đảo Cát Bà, đọc chệch từ tên gọi Các Bà. Miền Trung có chùa Thiên Mụ ở Huế, có đèo Mụ Giạ ở Quảng Bình. Miền Nam có núi Bà Đen, có ao Bà Om. Nghĩa là các Bà chia nhau trấn giữ hồn thiêng đất nước ta  một cách kĩ càng.
Ông Kim khái quát:
-         Tóm lại tất cả chúng ta đều thừa nhận rằng: linh khí của dân tộc Việt từ ngàn xưa là mang  tính nữ, một tính nữ đẹp đẽ đầy sức sống, một tính nữ phồn thực thăng tiến. Nhưng tại sao, nguyên nhân nào mà dân tộc ta không vươn lên được theo đà bay của con Lạc cháu Rồng, cuộc sống hôm nay của chúng ta lầm than quá, cực khổ quá. Cái gì đã khiến chúng ta đánh mất tính nữ trong linh khí của mình, để chỉ phát huy tính nam bốc đồng nhẹ dạ chỉ giỏi đánh nhau trên chiến trường, kém cỏi trong dựng xây đất nước. Tự hào bởi những cuộc chiến thắng lợi mà quên rằng  một cường quốc mạnh mẽ toàn diện sẽ có tác dụng khiến đối phương từ bỏ ý đồ xâm lược từ trong ý nghĩ. Với kẻ yếu ngươi ta chèn ép thôn tính, với kẻ mạnh thì người ta chỉ còn một cách là hợp tác hai bên cùng có lợi mà thôi. Để cho chiến tranh tàn khốc xảy ra để rồi tự ru mình „ tự hào ta là người lính đi đầu  là không phải thuộc tính tính nữ của mẹ Âu cơ truyền lại, thuộc tính đó là thuộc tính của một dân tộc khác, dân tộc hiếu chiến nông nổi đánh nhau suốt tiến trinh lịch sử  của nó như trong  các  tác phẩm văn học  sử đồ sộ Đông chu liệt quốc, Tam quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử  đã ghi lại. Du nhập và hành xử theo  một thuộc tính ngoại lai, khiên cưỡng, trái bản chất chỉ khiến dân tộc Việt có tính nữ lụn bại theo thời gian mà thôi.
    Đất nước Việt nam tuy không phải là rừng vàng biển bạc ngập tràn nhưng cũng đủ đầy tài nguyên thiên nhiên cho những ngành nghề công nông nghiệp và du lịch phát triển khi biết khai thác theo kế hoach hợp lí. Con người của dân tộc Việt  trong bản chất sâu xa vẫn thừa hưởng từ tổ tiên con Lạc cháu Rồng  những đức tính tốt đẹp, trí tuệ thông minh, khả năng thích ứng cao độ, cần cù chịu thương chịu khó cùng nhau xây dưng đất nước, nhưng vì sao chúng ta vẫn mãi nghèo nàn lạc hậu. Ta tự hỏi ta  : phải chăng từ một lúc nào đó rất lâu chúng ta thiếu nhân tài, thiếu trí tuệ xuất chúng thực sự với tư duy tổng quát cao độ  để phát động toàn dân phấn đấu lao động theo kế hoạch khôn khéo nhất  hiệu quả nhất trong công cuộc phát triển đất nước ?  Câu hỏi đó đang dần dần đươc thực tiễn khẳng định. Tại sao vậy ? thế giới rộng mở đầy cơ hội  phát triển với tốc độ cao trên nền tảng tự do dân chủ, chúng ta lại bao biện ảo tưởng cho mục đích tươi đẹp nào đó một cách giáo điều để rồi tự bó buộc mình trong vòng luẫn quẫn  tiểu nông hẹp hòi, ranh mãnh vụn vặt. Tại sao chúng ta không  thông minh sử dụng tri thông minh của người khác, dùng kinh nghiệm thành công của đất nước khác, dân tộc khác trên thế giới nhập vào chúng ta nhào nặn nó trong hoàn cảnh cụ thể của chúng ta để phát triển, trong khi đó cứ loay mò mẫm tìm lối đi trên mặt đất đầy trắc trở thất bại dường như chỉ phục vụ cho tâm lí háo danh thích lập dị của một ai đó. Con cháu Tiên Rồng là phải  biết tận dung cả 4 chiều không gian - thời gian, còn chúng ta tự chặt cánh của mình từ lúc nào để biến thành bầy cun cút chui bờ chui bụi. Chúng ta thực sự thiếu người tài có tầm đẳng cấp quốc tế  thực sự để đủ năng lực quyết đoán sáng suốt, dám chịu trách nhiệm cá nhân và hết sức năng động uyển chuyển và người đó  nhận ra một một cách sáng suốt rằng: chúng ta đã dễ dàng học theo một học thuyết  trong một lúc nào đó để phát động một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thành công, thì  đến  một lúc nào đó chúng ta  cũng  phải sẵn sàng đi theo một học thuyết khác để kiếm tìm dân chủ, phồn thịnh, hạnh phúc thật sự  cho dân tộc. Chủ nghĩa này hay chủ nghĩa nọ chỉ là phương tiện để đạt đến mục tiêu, là chiếc xe chở chúng ta đi trên con đường hướng đến chân trời hạnh phúc, vậy sao chúng ta cứ mãi mê ngồi trên chiến xa tứ mã mà không chịu tậu cho mình phương tiên hiện đại hơn, thậm chí khi cỗ xe ngựa cũ và hỏng, chúng ta lại nhảy xuống  tập hợp sức dân hì hục đẩy nó đi tiếp và đau đớn thay  giờ đây phương tiện đã trở thành mục tiêu: dân tộc Việt là chủ nhân chủ động đi kiếm tìm hạnh phúc lại trở thành  nô lệ đẩy xe chỉ vì tiếc của, quên phắt mất rằng chúng ta là ai và đi đâu ? Bảo thủ, giáo điều  là biểu hiện rõ nhất của sự dốt nát đầy tội lỗi. Linh khí nữ tính của dân tộc Việt vốn không có mục này trong danh sách  liệt kê đức tính mà Mẹ Âu cơ – Cha Lạc long  Quân truyền lại trước khi quay về Thượng giới. Vậy ai đã thọc gậy vào bánh xe của cổ xe thiên phú  dân tộc Việt ? ai là kẻ trục lợi nhiều nhất trong trò phá đám đó ? Giờ thì bất cứ ai là người tỉnh táo trên thế gian  này cũng có thể vạch mặt chỉ tên được rồi.
Bà Na dưòng như không nén được sự bất bình, buột lên lời phản đối:
-          Đâu phải chúng ta thiếu người tài giỏi như chú Kim nhận xét vậy. Hai chú và cháu Đông hẳn không thể quên được Trần Hưng Đạo, Lí Thường Kiệt, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung… và rất nhiều vị anh hùng khác ngày xưa. Còn ngày nay có…
Câu nói của bà cụ bỗng bị cắt ngang bởi một người mắc đồng phục nhân viên Đương sắt  đeo cặp bằng da trước bụng, tay phải cầm lăm lăm một chiếc kìm bấm lỗ, đột ngột bước vào Cabin:
-         Đề nghị hành khách cho kiểm tra vé tàu !
Mọi người nhanh chóng xuất trinh vé đi tàu của mình, chỉ có Bà cụ thì vẫn loay hoay lục lọi các túi áo mà vẫn chưa tìm ra tấm vé. Bà cụ lẩm bẩm thanh minh:
-         Thằng cháu trai của tôi rõ ràng đã đưa  chiếc vé cho tôi trước khi chào tôi ra về, nhưng không rõ tôi để nó ở đâu. Đúng là già lão lú lẫn mất rồi, anh chờ tôi một tí nhé !
-         Vâng bà cụ cứ bình tĩnh tìm, cháu chờ.
      Huy Đông đứng đây giúp Bà lão xem xét trong chiếc túi đưng vật dụng đi đường nhỏ và nhiều nơi khác, nhưng không có kết quả. Bà lão bắt đầu thể hiện sự thất vọng và hốt hoảng:
-         Sao lại đến cơ sự này kia chứ, thật rõ khổ !
-         Cụ cứ bình tĩnh ! gắng tìm kĩ xem sao ! có chúng cháu đây đưng có sợ ! – Ông Kim an ủi Bà lão, rồi quay sang nói với người soát vé: Chính tôi đã nhìn thấy, thằng cháu trai của bà lão trao tận tay chiếc vé và cẩn thận căn dặn bà cất cẩn thận kẻo rơi mất, trước khi có lời gửi gắm chúng tôi giúp đở bà lúc khó khăn trên đường đi.
-         Vâng, tôi tin là như  vậy, nhưng mà…
 Đúng lúc đó Đông reo lên:
-         Ôi! Đây rồi ! Thì ra Bà Na để tấm vé gấp đôi lẫn dưới một chiếc lá trầu không trong hộp trầu cau. Mọi việc ổn thoả nhanh chóng, Bà lão cám ơn mọi người rối rít làm Tiến sĩ Đức nhắc đùa:
-         Bà ơi ! chúng cháu cũng như Bà thôi ! chỉ cần một lời cám ơn là đủ thôi mà !
       Lúc này đoàn tàu từ từ giảm tốc độ tiến vào Ga Nam định. Tiếng bánh sắt nghiến lên đường ray ken két, các toa tàu lắc lư thúc vào nhau cho đến khi dừng hẳn . Lại tiếng phát thanh viên khê nồng, ngái ngủ giông hệt ở ga Hà nội:
  „ Hành khách đi tàu chú ý ! Đoàn tàu Thống nhất một đi thành phố Hồ Chí Minh đang dừng trên đương ray số 2, đề nghị bà con  khẩn trương lên tàu một cách trật tự, không chen lấn xô đẩy lẫn nhau tránh kẻ gian lợi dụng móc túi…“
 Tuy vậy chẳng ai bận tâm dền nhưng lời nhắc nhở đó. Hàng hoá trong những túi lớn túi nhỏ, sọt lớn sọt nhỏ, không cần qua cửa lên xuống, được tuôn ào ào qua tất cả các cửa sổ toa tàu, kể cả cửa sổ ở các cabin giưòng ngủ, một cách ngang nhiên  sau khi buông một câu hách dịch: „xin phép nhờ một tí“. Nhoáng một cái các hành lang đầy kín hàng hoá và con buôn, chật chội và ồn ào như một cái chợ làng. Chỉ một lúc sau các gầm ghé ngồi, giường năm đều trở thành kho chứa hàng, đố người tử tế nào dám phản đối khi những khuôn mặt gườm gườm cất giong đe doạ:
-         Làm cái gì mà nhắng lên vậy, dễ tàu này là của nhà ông (bà) chắc.Liệu mà biết điều đi!
 Vậy là im re chịu đựng trong sự bực bội cố nén xuống.
Huy Đông biết rằng, Ga Nam định là ga tập kết hàng buôn đường dài vào Nam gồm những mặt hàng nông sản miền đồng bằng  hay trung du Bắc bộ: Chè xanh, thuốc lá sợi , bánh kẹo, đồ thủ công mĩ nghệ, rượu trắng…và cũng là ga tập kết hàng hoá từ miền Nam ra: Quần áo, giày dép, dung cụ gia đình, lạp xưởng, mì chính…vì không vào thẳng ga Hà nội do bị đánh thuế buôn chuyến rất cao. Do không đủ hàng hoá  và phải bán phân phối nhu yếu phẩm cho dân theo tiêu chuẩn tem phiếu phân biệt đẳng cấp, nên Nhà nước thực hiên chính sách „ ngăn sông , cấm chợ“ đánh thuế cao, nhưng không ngăn được nan buôn lậu, một hình thức thực hành kinh tế thị trương tự phát, phát triển khắp đất nước.
  Đoàn tàu lại xuất phát, lao đi xình xịch trong bóng đêm.Thi thoảng từ phía đầu máy chay bằng  Diesel lại tút lên một hồi còi lanh lãnh khi băng qua một khúc đường  giao nhau nào đó. Trong các toa tàu, mọi người đã tìm cách ổn định chỗ nghỉ của mình, những người đi buôn hoặc nằm hoặc ngồi ngay trên các lối đi, giờ cũng gà gật ngủ một cách yên tĩnh.
 Sau những biến cố sôi đông vừa xảy ra, không ai trong 4 người trong Cabin hứng khởi trò chuyện tiếp câu chuyên dở dang. Bà Na nằm quay mặt vào vách ngáy nhè nhẹ, ông Đức ngủ say rất nhanh, thi thoảng lại ú ớ một điều gì đó không rõ. Ông Kim chắc cũng không muốn làm phiền đến người khác nên nằm im chờ giấc ngủ tới. Chỉ có Huy Đông không muốn nằm nghỉ, anh lặng lẽ  ngồi suy tư bên của sổ vừa để hóng gió từ những cách đồng lúa chiêm Hà nam lướt qua bên đường. Anh nhớ lại câu trách cứ của bà Na và tự lí giải:
-         Không phải dân tộc Việt không có các người tài giỏi, mà là Việt nam  thiếu người xuất chúng, toàn diện tầm cở thế giới. Những anh hùng chống giặc ngoại xâm trong lịch sử dân tộc chỉ mới là các điểm loé sáng trên chiến trường chống giặc ngoại xâm, nơi dù là nguy hiểm chết chóc nhưng dễ có sự đồng thuận trong nghĩa vụ và quyền lợi của tất cả mọi người vì một mục tiêu chung giản đơn là phải chiến thắng quân thù chung băng mọi cách. Và trở thành một vị tướng thao lược không đòi hỏi nhiều đức tính của một minh quân tài giỏi. Mấy ai trong số họ làm nên trò trống gì trong thời bình, lúc ngươi ta cần trí tuệ nhiều hơn, cần thích ứng mạnh hơn và cũng cần đức độ lãnh tụ cao hơn.
   Trong số những lãnh tụ mà lịch sử Việt nam ghi nhận là khá nhất cũng chưa đạt đến tầm vĩ nhân thật sự, ngay nhiều khi để đạt được vị trí  như vậy họ cũng phải bù thêm nhiều xảo kế màu mè: Chí chưa đủ cao như mong ước họ cứ liên tục đổi tên, đổi họ, đổi biệt danh thật kêu, thật ý nghĩa loá mắt người nhẹ dạ cả tin, bù vào khiếm khuyết năng lực, mà có biết đâu rằng ngọc không đánh bóng ngọc vần là ngọc, đá có sáng rực lên do sơn phết thì chỉ là đá thôi. Chưa nói đến người mới bước chân ra khỏi  nhà mẹ cha đã khước từ tên tuổi khai sinh của mình , ba hồi ba chặng thấy hay hay đổi hoài tên tuổi đến nổi nhiều khi thần dân phải hỏi nhau ông này là ai, liệu có là kiệt xuất thiên tài được không.
  Con người ta ai cũng phải học, học suốt đời. Nhưng cái sự học của thiên tài là sự học hơn người. Học chỉ mới biết  chỉ là sự xem qua, quên cũng đựơc mà nhớ cũng chẳng mấy tác dụng. Học hiểu  được rồi đã là sự đào sâu trí tuệ, nắm được bản chất qui luật của của sự vật hiện tượng. Học đến mức biết vận  dụng  vào cuộc sống là sự học phận người thừa hành quan lại, nhiều khi phụ thuộc vào sách vở , phải dựa vào tên tuổi bậc tiền bối làm thang gá ý của mình vào. Những người học đến độ nay biết mình chưa đủ chín  cho trọng trach quá sức mình đành dùng xảo thuật „ cáo mượn oai hùm“ : „như ông này đã nói“,“ như ông kia đã phát biểu“ cho những bài chính luận, bài triết lí cao hơn tầm với của mình, làm người nghe tinh ý không biết bài này là của ai ? vì khi gấp sách lại chỉ nhớ mỗi câu mở đầu của bài viết, hay quá! Chí lí quá, nhưng cái câu này lại của một cái ông ở tận đẩu tận đâu và có khi chết từ đời tám hoánh nào rồi, sao đúng được  cho thờì nay ở Việt nam lại ở vào thời đại  khi mà mỗi một năm tốc độ xử lí thông tin của con chip Intel trong máy tính tăng theo cấp số nhân. Sự học của bậc vĩ nhân thật sự là sự thâu tóm tri thức của nhân loại vào mình, nhào nặn nó thành của mình, mang sắc thái trí tuệ sáng tạo hơn người của mình, dù có cần nói đến một điều mà ngươi khác đã nói thì cũng tự nhiên tuôn ra từ chính trí tuệ của mình và nhất định là phải cao hơn ý của người xưa về chất và lượng, chưa nói đến sự uyên thâm trong vấn đề đó khiến  người xưa có đội mồ đến nghe cũng phải chắp tay bái mình làm sư phụ. Ấy là sự  học của tầm vĩ nhân xoay chuyển trời đất vậy.
   Thị xã Ninh bình đón đoàn tàu Thống nhất vào lúc nửa đêm bằng làn bụi mù mịt cả không gian yên ắng. Mùi khét nồng của bụi khói xộc thẳng vào các toa tàu qua của sổ mở toang, làm văng vẳng tiếng hắt hơi, xì mũi suốt dọc đoàn tàu đã đứng yên đón khách trong sân ga nóng hầm hập. Vài giong phụ nữ ngái ngủ càu nhàu:
-         Sao mà lắm bụi thế hở giời, không hiểu vì sao dân ở đây sống suốt ngày trong bui khói thế này mà cũng chịu được ?
-         Nhà với chả máy, điện với chả đóm, xây với chả dựng chỉ rặt là khổ dân !
Ông Kim trở người nằm nghiêng để cúi xuống ngang tầm cửa sổ nhìn ra ngoài. Ông hỏi Huy Đông với vẻ ngạc nhiên lạ lẫm:
-         Đây là đâu vậy cháu ? Bụi bặm quá!
-         Dạ đây là thị xã Ninh bình, chú có nhìn thấy cái nhà máy, có ống khói thấp lè tè đang phun khói bụi đen đặc, nép vào chân núi đá vôi đó không ? Đó là nhà máy nhiệt điện do Trung quốc xây giúp, các đoàn tàu chở đầy than cám đó là than chuyển về từ mỏ than tít ngoài Quảng ninh vao chỉ để đốt lò phat điện của nhà máy.
-         À là vậy! Trái núi đúng chơ vơ đó có tên là núi Cánh Diều ?
-         Dạ phải !
-         Về nhà máy này cũng có nhiều lời đồn đại, phê phán. Ở nước ngoài chú đã đọc được một bài phân tích khá thú vị. Đại loai là anh bạn nước lớn tư vấn chọn địa điểm đặt nhà máy, thiết kế rồi trực tiếp thi công xây dựng chỉ vì thực hiện một ý đồ khai thác và thu hồi cái gì đó được cha ông của họ cất giấu trước đây, chứ ai lại đặt một nhà máy phát điên chạy bằng than ở một nơi xa cách vùng mỏ than, lại cũng không có cảng biển hoặc sông như ở cái thị xã nhỏ bé này. Người ta  cho vạt đi một phần trái núi ( vì sao phải vạt núi thì chẳng ai biết) về phía thị xã để xây nhà máy, ống khói lại như cố tinh xây thấp hơn chiều cao vách núi để khói bụi tuôn ra suốt ngày đêm quẩn quanh trên bầu trời của thị xã. Toàn là chuyên phi lí cả ! Nhưng mà chú quan tâm đến một chuyên khác hơn, chắc cháu biết sự tích núi Cánh Diều chứ ?
-         Dạ cháu có biết ạ !
-         Thế thì rất tốt ! Ông Kim không nói gì thêm. Huy Đông chỉ nghe tiếng cót két phát ra từ các vết nối tấm gỗ giường dưới sức nặng của ông Kim khi ông giở mình quay lại tư thế nằm thẳng .
-         Chuyện khác của ông Kim là chuyện gì ? Vì sao chú ấy muốn rằng: mình cần phải biết sự tích núi Cánh Diều ? Huy Đông tự hỏi và anh nghĩ: -  khi phân tích kĩ nội dung truyền thuyết về hòn núi này mình sẽ đoán được phần nào điều mà ông ấy quan tâm.
   Chuyyện rằng, thửa xa xưa bên nước Trung hoa có một người rất giỏi thuật phong thuỷ, tướng số tên là Cao Biền. Ông ta có trong tay một cây bút thần,  tuy bằng lông nhưng có thể đâm thủng cả sắt đá, lại có thể hoá nên to nhỏ tuỳ ý tạo nên sức mạnh vô cung cho người biết dùng nó. Đăc biệt, dung bút thần vẽ nên một con vật bất kì nào đó, sau khi „điểm nhãn“ hình trong tranh liền trở thành con vật thật cựa mình đi lại bay nhảy ăn uống bình thường. Nhà vua Trung hoa rất trọng dụng Cao Biền vì hắn ta đã hết lòng dung tài năng của mình trấn yểm tất cả những mầm mống phản nghịch trong nước, bồi bổ long mạch dòng dõi nhà vua ngay càng“ phát“ lộc nhờ vậy mà nhà vua thống trị bền chắc đất nước rộng lớn. Một hôm Cao Biền được vời vào cung vua chầu kiến, sau khị chào hỏi qua loa nhà vua nói:
-         Ta rất biết ơn khanh đã bao khó nhọc giúp ta ổn định đất nước, củng có địa vị Thiên tử của ta và con cháu ta sau này. Nhưng ta nghe nói về phưong nam của nước Trung hoa to lớn chúng ta có một nước nhỏ bé của dân tộc Việt, dân tộc đó,như theo lời một vị thần linh báo mộng cho ta biết, vốn có dòng dõi là con cháu của Tiên Rồng càng ngày phát triển, bành trướng. Nếu cứ để vây thì ảnh hưởng đến quyền lợi của nước Trung hoa chúng ta, mà chưa biết chừng đến một lúc nào đó nó xuất hiện người thực tài, chí thật lớn có thể bình định được thiên hạ dễ như trở bàn tay thì thật nguy khốn cho đời con đời cháu ta. Hiện giờ ta đang cai trị xâm chiềm dược nó vì sức mạnh. Nhưng lau dài ta muốn khanh sang đó tìm cách, yểm chặn tất cả các long mạch của nứơc Nam để không bao giờ xuất hiện nhân tài thực sự. Việc này rất quan trọng ta muốn khanh vì ta, vì tương lai đất nước Trung hoa mà hết lòng thực hiện.
   Cao Biền phất tay áo một cái rồi cúi đầu bẩm:
-         Thưa Bệ hạ ! Nô thần xin vâng mệnh mà hết lòng !
Nhà Vua nói:
-         Thế thì tốt ! đặng Ngài vỗ tay một cái, từ hậu điện tiến ra một người tầm thước, mắt sáng, râu dài phất phơ khoan thai tiến ra đứng chắp tay cung kính nói:
-         Kính thưa Bệ hạ, Thần là Vấn Tử  quốc sư xin nghe lời chỉ dạy.
-         Nhà ngươi nghe đây ! Sau khi Pháp sư Cao Biền đây đã yểm chấn  long mạch làm suy yếu chí lớn của dân tộc Việt, thì khanh phải tìm cách nào đó để truyền day cho chúng Nho giáo dể chúng thấm hiểu đời đời thân phận chư hầu hèn mọn của chung mà an phận. Nhớ là không được dạy hết tất cả đạo Khổng, bỏ qua phần triết lí tự do dân chủ, nhân ái lấy dân làm gốc nhân trị, mà chỉ day cho chúng phần tôi đòi…tiểu nhân, ngươi hiểu ý của ta chứ.
 Vấn Tử cúi đầu:
-         Bẩm Bệ hạ ! Thần đã rõ rồi!
-         Ta cho các Khanh quyền tiền trảm hậu tấu nhưng ai dám ngăn cản công việc ta đã giao. Nhân lực vật lực tuỳ các khanh lấy theo bao nhiêu cũng được để xong việc. Thôi các khanh về mà từ biệt gia quyến, sơm sớm lên đường.
-         Chúng thần xin vâng mệnh cáo biệt.
Cao Biền, Vấn Tử cung kính chờ nhà Vua đi khuât hẳn sau cổng của Cung Ái nương mới dám lui gót vội vã về tư dinh. Chon được ngày lành tháng tốt chúng lên đường nhằm hướng nước Nam thẳng tiến. Trong khi Vấn tử mang theo rất đông tuỳ tùng , khuân theo rất nhiều tư trang vật dụng trong đó có rất nhiều sách, chủ yếu là Ngũ kinh và Tứ Thư của Khổng tử. Đám này mang cả theo gia quyến chuẩn bị cho cuộc định cư lâu dài đồng hoá và cai trị dân tộc Việt. Còn đoàn của Cao Biền thì nhỏ gọn chưa đến chục người lại phải đi lẫn trong đoàn người ngựa đông đúc của Vấn Tử, vì Cao Biền đã vẽ một con Diều lớn rồi hắn cưỡi lên bay sang nước Nam.
    Bay lượn  xem xét, bấm độn, gieo quẻ và đói chiếu với sách phép suốt mấy ngày liền, Cao Biền kinh hãi nhận thấy rằng, phong thuỷ nước này quả là tuyệt đẹp, xứng đáng là nơi Rồng Tiên chọn làm nơi gửi gắm con cháu, những người mà càng về sau càng khiến Thiên hạ nể trọng về mọi mặt. Biết mình chỉ là người trần tục, không địch được ý Trời, hoạ chăng cũng chỉ tập trung tài năng yểm chặn được một vài hướng phát triển của dân tộc Việt mà thôi, hắn cũng biết chặn hướng này thì hướng khác sẽ tăng lên nhiều hơn, nên phải có sự lựa chọn tối ưu nhất. Suy nghĩ tính toán hồi lâu, với sự ranh mãnh thâm nho hắn quyết yểm chặn mạch phát nhân tài trị nước, mà nới lỏng mạch nhân tài quân sự vì hắn tính rằng đất nứoc của người Việt với những người đầy tài năng xây dựng đất nước sẽ trở nên hùng mạnh về chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá thì chẳng có kẻ nào dám đung tới, mà nếu có hiêm khích thì nhũng con người thông minh xuất chúng của dân tộc Việt sẽ bằng con đương ngoai giao hoá giải không còn nhiều cơ hội nảy sinh chiến tranh. Thiên tài quân sự  rất cần cho các cuộc chiến, nhưng chiến tranh không phải là trang thái thường trực của một đất nước, ra khỏi chiến tranh các tướng lĩnh sẽ lúng túng trong công cuộc dựng xây, nên sẽ cảm thấy tự ti, sợ bị xem thường họ càng bảo thủ đề cao quá khứ hiển hách của họ và ngăn cản ngươi khác tài hơn họ trong công cuộc phăt triển mới của dân tộc. Họ sẵn sang tuót gươm ra  giải quyết xung đột nội bộ để rồi lục đục liên miên, như vây thì nói gì dến  dựng xây một cường quốc hùng mạnh toàn diện trên mảnh đất đẹp đẽ này, nó sẽ mãi mãi nằm trong ước mơ của dân tộc vốn la con Rông cháu Lạc. Cao Biền cưỡi diều bay khắp đất nước, núi sông của người Việt, dùng bút thần hoặc trực tiếp hoặc chế tác ra nhiều đồ vật thích hợp yểm chặn nhũng nơi cần thiết được hắn gi lại trong một tấm địa đồ luôn giắt bên mình. Trên đường trở về cố quốc hắn nghe tin mật báo từ gia đình hắn, rằng nhà Vua Trung hoa đang cho ngươi sang tìm hắn hỏi tội. Cao Biền thất kinh tra hỏi ngọ ngành, thì ngươi truyền tin nói:
-         Thưa Pháp sư ! Khi ngài vừa ra đi thì từ nhièu vùng đất khác nhau của đất nước trung hoa nổi lên khởi nghĩa đòi phân chia quyền lực, nhà vua rất vất vả đánh dẹp, đồng thời khi bấm quẻ đoán vận, vua biết rằng pháp sư đã làm việc thiếu cẩn trọng để sót mạch bạo loạn. Vua giân lắm sai quân đi lùng tìm bắt Pháp sư về hỏi tội.
Cao Biền ngửa mặt lên trời than thở:
-         Sao ta lại có thể sơ suất đến vậy được, quả thật sức người có hạn, ta đã tự chuốc hoạ vào thân.
Nói đoạn dứng im như tròi trồng, ai hỏi không nói một lời. Hồi lâu sau đó hắn lầm lũi cưỡi Diều bay ngược về phương Nam, mồm luôn lẩm bẩm:
-         Ta lại bỏ sót nữa rồi ! Ta lại bỏ sót nữa rồi!
Thì ra hắn chợt nhớ ra do vội muốn về quê nên khi qua vùng đất tỉnh Thanh hoá bây giờ, hắn bỏ qua một long mạch mà ban đầu hắn cho là nhỏ , yếu chỉ phát vương hầu không bền chắc mà không yểm chặn. Bị cái hoạ ở quê hương đe doạ nên trong khi chưa biết làm gì, Cao Biên quyết quay trở lại yêm nốt chỗ còn sót này.
 Chuyến đi của Cao Biền lần này không còn thuận lợi như trước nữa. Nguyên do là trước khi rời nước Nam về nước, trong buổi uống rươu chia tay với đám Vấn Tử hắn buột mồm huênh hoang công việc đen tối của mình vối tất cả mọi người, thậm chi hắn con giơ cao tấm địa đồ đánh dấu các nơi yểm chặn và lớn tiếng thách đố cháu con dân Việt giải phá được các huyệt đạo đó. Dân Việt biết tin thì vô cùng căm tức bọn cầm quyền Trung hoa va Cao Biền, lần này được tin hắn quay trở lại, họ hè nhau dùng cung tên bắn đưởi theo hắn, đến vung đất Ninh binh ngày nay, khi Cao Biền hạ thấp xuống  vì sắp đến Thanh hoá, thì diều của hắn bị trúng nhiều tên và rơi xuống đất, một chiếc cánh diều bị gãy lìa ra cắm xuống dựng đứng  trên mặt đất. Cao Biền cưỡi con diều một cánh chay bộ ngược lại ra Bắc tránh sự săn đuổi của người Việt.Cao Biên không thể chạy về cố hương được, hắn dành chọn vùng núi hiểm trở miền Bắc Việt để dung thân. Sau này nghe đâu hắn chết bệnh trong một cái hang đá nào đó.
 Ở vùng đất là thị xã  Ninh binh bây giờ cánh  diều gãy lâu ngày hoá thanh ngọn núi đứng chơ vơ và người ta gọi nó là núi Cánh Diều. Kể từ đó các đời vua Việt thường chỉ phát lên từ vùng tỉnh Thanh, nhưng không có các ông vua thực tài, các dòng Vua thường không tồn tại thực dài trong lịch sử Viêt nam.
  Đoàn tàu Thống nhất rúc một hồi còi lanh lãnh khi từ từ chui vào lòng một chiếc cầu tạo bởi nhưng khung đầm sắt, bà lão Na nãy giờ không ngủ được phần thì do tuổi già ít ngủ, phần thì do nóng bức trong toa tàu đông người, nhìn chiếc cầu nói với Huy Đông:
-          Này cháu Đông ! Đây là cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã, bên kia là núi Ngọc. Sông Mã như thân con Rông uốn lượn há Hàm  định đớp lấy viên Ngọc quí. Cháu thấy có đẹp không ?
-         Vâng ạ ! cháu cũng thấy vậy ạ!
Ông Kim Chẳng biết tỉnh ngủ từ lúc nào, nghe vậy cũng nhao người thấp xuống nhìn ra ngoài:
-         Địa danh Hàm Rồng nổi tiếng trong cuộc chiến ác liệt chống Mĩ đây ư. Bom đạn của không quân Mĩ đã đổ xuống đây như mưa mà không phá huỷ được chiếc cầu quan trọng nối liền giao thông chi viện cho chiến trường miền Nam. Quân và dân Thanh hoá anh hùng đã kiên cương đánh trả máy bay đánh phá không ngừng nghỉ ở dây ư ?. Ở bên Pháp bọn tôi không thể hình dung đươc trong thực tế Chiếc cầu nổi tiếng anh hùng lại nhỏ bé mong manh như thế này. Và đây cũng là long mạch còn sót lại chưa bị Pháp sư Trung hoa Cao Biên yểm chặn trong chuyên sự tích núi Cánh Diều, phải không cháu Đông ?
-         Dạ đúng vậy thưa chú. Nhưng trong lịch sử thì nhân vật Cao Biền lại là một nhân vật có thật và dĩ nhiên không thể có nhiều phép thuật siêu phàm đến như vậy. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư,  Cao Biền  tự Thiên Lý (821–887) là một viên tướng của nhà Đường, ông là người thay mặt cho  nhà Đường cai quản Giao Châu (tên gọi khi đó của Việt Nam) từ năm 866 đến năm 875 với chức vụ tiết độ sứ. Sau lại làm phản nhà Đường và bị giết năm 887. Tổ tiên là người Bột Hải (Mãn Châu), sau di cư đến U Châu. Cha là Cao Nguyên, ông nội là Nam Bình quận vương Cao Sùng Văn, thời Đường Hiến Tông Lý Thuần (806-820), là một danh tướng chỉ huy cấm quân. Từ khi còn nhỏ, Cao Biền đã là người rất chịu khó trau dồi về văn học. Giao du với các nho sĩ, ông thường bàn luận đường lối chính trị một cách rắn rỏi. Cao Biền theo Chu Thúc Minh, làm tư mã. Cao Biền làm quan, được thăng dần đến hữu thần sách đô ngu hậu, sau vì có công, lại được thăng làm phòng ngự sứ Tần Châu. Những năm đầu thời Đường Ý Tông (859–873), Cao Biền chỉ huy quân tại biên cương phòng chống người Đảng Hạng và Thổ Phồn, kiêm Tần Châu thứ sử.
     Năm Hàm Thông thứ bảy (866), Cao Biền sang trấn thủ Giao Châu, làm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, cai quản cả Giao Châu và Quảng Châu. Năm Càn Phù thứ hai (875) đời Đường Hi Tông (873–888), nhà Đường chuyển ông đến cai quản Tây Xuyên. Cao Biền là người nghiêm khắc nhưng lạm dụng hình phạt, lạm sát cả người vô tội. Tuy vậy, trong thời gian cai quản Tây Xuyên ông đã có công lui quân Nam Chiếu. Năm Ất Tỵ (875) vua Đường đổi Cao Biền đi làm tiết độ sứ tại Tây Xuyên (tỉnh Tứ Xuyên) và ưng thuận lời đề nghị của Cao Biền cho Cao Tầm (cháu Cao Biền) thay thế ở phương nam.
      Năm Càn Phù thứ sáu (879) quân đội của Hoàng Sào từ bờ nam sông Hoàng Hà tiến về phía tây, triều đình nhà Đường điều Cao Biền đến làm Trấn Hải Quân tiết độ sứ (ngày nay là Trấn Giang, Giang Tô. Quân của Hoàng Sào chuyển hướng tiến về hướng nam tới Chiết Giang. Tháng 5 năm Quảng Minh thứ nhất (880) tại Tín Châu (ngày nay là Thượng Nhiêu, Giang Tây) quân Hoàng Sào giết chết Hoài Nam tiết độ sứ (ngày nay là bắc Dương Châu, Giang Tô). Tháng bảy, quân Hoàng Sào vượt qua Trường Giang. Cùng năm, quân Hoàng Sào từ Quảng Châu (ngày nay thuộc Quảng Đông) tiến lên phía bắc tới khu vực Giang-Hoài, Cao Biền khiếp sợ uy thế Hoàng Sào, chỉ cố thủ Dương Châu, dù binh lực có trên 100.000 để bảo tồn lực lượng. Quân Hoàng Sào tiến vào Trường An, Đường Hi Tông khẩn cấp điều Cao Biền đem quân cứu giá, nhưng Cao Biền không tuân lệnh của nhà Đường mà lại cát cứ một phương. Năm Trung Hòa thứ hai (882), nhà Đường bãi miễn Cao Biền.
      Về già, Cao Biền trở nên tin vào phép thuật thần tiên, trọng dụng thuật sĩ làm lòng người ly tán, tướng cai quản Hoài-Nam là Tất Sư Đạc rất lo sợ, năm Trung Hòa thứ năm (885) Cao Biền tạo phản, nhà Đường cử Tuyên Châu quan sát sứ là Tần Ngạn trợ chiến với Tất Sư Đạc. Năm Quang Khải thứ ba (887), Tất Sư Đạc xuất quân từ Cao Bưu, hợp cùng các tướng khác tấn công Dương Châu. Cao Biền phái người đi cầu cứu Dương Hành Mật, nhưng người của Cao Biền chưa tới nơi thì thành Dương Châu đã bị phá, Cao Biền bị bắt làm tù nhân, một thời gian sau bị Tần Ngạn, Tất Sư Đạc giết chết.
    Ông Kim vội lên tiếng khi Huy Đông có ý phản biện nhân vật Cao Biền không có pháp thuật để có thể yểm chặn long mạch ở Việt nam. Thậm chí một số nơi còn có đền thờ 3 bà vợ của Cao biền ở nước ta, một số đời vua Viêt nam như thời Hậu Lê và ngay cả trong Đời Nguyễn đã truy phong Cao Biền là Thành hoàng Cao đại vương vì đã có công xây La thành sơ khai của Thành Hà nội ngày nay:
-         Nhưng  cháu có biết trong dân gian Việt nam ta từ lâu đời vẫn truyền tụng các truyền thuyết khác nữa về một Cao Biền pháp sư đó sao. Những lời truyền cho rằng Cao Biền thấy ở đất Giao Châu có nhiều kiểu đất đế vương, nên thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét, rồi dùng phép thuật phá những nơi có hình thế sơn thuỷ đẹp, và chặn những đất có long mạch bằng cách đào những giếng khơi rất sâu.
     Mỗi khi thấy người nào sức yếu, tay chân cử động run rẩy, người ta hay sử dụng câu gần như đã là thành ngữ: Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non. Người ta giải thích là Cao Biền có phép thuật "tản đậu thành binh", nghĩa là mỗi khi cần có quân lính đi đánh dẹp, không cần mộ người chỉ cần rắc đậu vào một bãi đất, rồi ủ kín, đọc thần chú rồi mở ra, mỗi hạt đậu hóa thành một người lính. Có lần Cao Biền đọc thần chú còn thiếu, khi mở ra những hạt đậu đã thành lính nhưng đều còn non chưa đủ sức, đứng lên không vững.
     Một thuyết khác giải thích về Cao Biền dậy non là khi Cao Biền sang nước Nam với mục đích yểm bùa và triệt hạ long mạch thì ông có nuôi 100 âm binh để phục vụ mục đích này. Để nuôi đủ 100 âm binh Cao Biền nhờ một bà hàng nước mỗi ngày thắp một nén hương để gọi dậy một âm binh. Khi thắp đủ 100 nén hương trong vòng 100 ngày sẽ gọi dậy được đủ 100 âm binh. Nhưng bà lão nước Nam đã phá âm mưu của Cao Biền bằng cách thắp cả một lượt 100 nén hương trong vòng 1 ngày. Kết quả là âm binh của Cao Biền đã dậy đủ 100. Nhưng vì không đủ ngày, dậy non nên không có tác dụng.
     Truyền thuyết dân gian kể rằng khi sang Giao Châu, Cao Biền thấy long mạch rất vượng, nên muốn phá đi, thường mặc áo phù thủy, cưỡi diều giấy đi khắp nơi để xem địa thế, hoặc giả tảng lập đàn cúng tế để lừa thần bản địa đến rồi dùng kiếm báu chém đầu, xong đào hào, chôn kim khí để triệt long mạch. Cao Biền có lần đến núi Tản, định dùng chước này, nhưng Tản Viên sơn thánh biết được, liền mắng đuổi, Cao Biền đành bỏ đi.
 Như vậy, chúng ta có nên đặt một nghi vấn: Cao Biền trong chính sử và Cao Biền trong dân gian có phải là một nhân vật hay không ? Liệu Đai Việt sử kí toàn thư chép theo Sử kí Trung hoa về một Tiết độ sứ Cao Biền mà bỏ qua một Pháp sư xảo quyệt Cao Biền hành tung bất chính không lộ mặt mà hành động như trong các chuyên kiếm hiệp Trung hoa chúng ta vẫn thấy hay không ?  Hay chính Vấn tử trong câu chuyện cháu vừa kể chính là Tiết độ sứ Cao Biền còn  tên Pháp sư  do cùng sang một đoàn với Vấn Tử không chính danh nên đựoc nhân dân ta lưu truyền nhiều đời, đại loại như gọi mãi tên „pháp sư của Cao Biền „ lâu ngày thành ra chỉ lưu lai hai từ Cao Biền trong câu chuyên truyền miệng ? Mặt khác, cũng theo sử Trung hoa thì khi về nước rồi, chính  quan Tiết độ sứ cũ Cao Biền lại bị suy yếu do các nhà tướng thuật hãm hại, nếu quả thực Cao Biền là tài năng như trong truyền thuyết nước ta thì đâu phải bị như vậy, chỉ cần suy luận chúng ta biết rằng người Pháp sư không cùng về Trung hoa với Cao Biền mà ở lại Viêt nam  giúp  Tiết độ sứ Cao Tầm ( cháu của Cao Biền) và hiển nhiên khi Tiết Độ sứ Cao Biền tạo phản và bị giết chết thì số phận hắn chỉ đành chịu chết ở đây mà thôi.  Chúng ta quan tâm đến nhân vật này, chứ không quan tâm đến Tiết độ sứ Cao Biền, cháu nghĩ thế nào ?
-         Dạ cháu thấy chú cũng có lí !
 Huy Đông đáp theo lời ông Kim một cách lơ đãng vì bân nghĩ tiếp:
-          Bây giờ thì mình đã có thể đoán ra chú Kim quan tâm đến điều gì hay chính xác hơn CÁI GÌ  trong sự tích núi Cánh Diều, thật đơn giản: Trong câu chuyện truyền thuyết này Cao Biền đã làm một việc xấu xa đối với dân tộc Việt là yểm chặn các huyệt phong thuỷ trên đât Việt, trùng với cách đặt câu hỏi vấn tìm ở nhưng lời phát biểu của ông Kim trước đây:  tại sao chúng ta có đủ tố chất của một dân tộc anh hùng nhưng ta vượt lên không  nổi vì ta thiếu nhân tài tầm cỡ lãnh đạo, Cao Biền và những việc làm của hắn đã ảnh hưởng đến linh khí dân tộc Việt. Chú Kim quan tâm đến Cao Biền tức muốn phá bỏ ảnh hưởng đó, theo chú Kim thì Cao Biền – Pháp sư có thể là một người có thật trong lịch sử. Vậy cái bản đồ của hắn cũng có thể có. Viêc trước tiên  của chú ấy là tìm cho ra thực hư về sự tồn tại của tấm MẬT ĐỒ CAO BIỀN đó. Huy Đông cũng mơ hồ đoán được Ba của anh cũng dính dáng đến công việc truy tìm tấm Mật Đồ Cao Biền này.
       Tàu đến Ga Vinh  vào lúc trời đã sáng hẳn, những tia nắng đầu tiên làm vàng rực lên một khoảng chân trời phía Đông thành phố Vinh. Đây là thành phố lớn nhất trên tuyến hành trinh của hành khách từ Hà nội vào Huế.
      Phượng Hoàng Trung Đô „ một cái tên rất hay mà vua Quang Trung  đặt cho cái thành phố miền trung tạm thời đang đầy tràn bụi bặm và thiếu thốn này:         
                            Năm tám lăm, gạo tám lăm
                            Dân Xứ Nghệ, mặt vàng như nghệ
                            Sống giũa Thành Vinh, mà chẳng thấy vinh

Câu  đối truyền khẩu có nghĩa rằng: Ở năm 1985 này gạo đã tăng giá kinh khủng lên đến 85 Viêt nam Đồng cho 1 ki lo gam, gần bằng 1 tháng luơng của Huy Đông. Người dân của tỉnh Nghệ an mà thủ phủ là thành phố Vinh , mặt vàng đi vì đói. Ngay người dân sống nơi thành phố Vinh (quang) mà chẳng thấy vinh (dự ) gì.
      Nằm bên bờ sông Lam chảy xiết,  thành phố Vinh trở thành vị trí giao thông chiến lược, do không còn cách nào khác, đường quốc lộ số 1 chay qua trung tâm thành phố bắt đến bờ Bắc, rồi muốn sang bờ Nam phải nối liền bằng phà hoặc tiện lợi hơn thì phải qua càu phao luôn dập dình trên mặt sông rông lớn . Trong cuộc chiến tranh chống Mĩ, thành phố Vinh bị tàn phá nặng nề đến nỗi hơn 10 năm hoà bình đã trôi qua nhưng chưa gượng dậy được. Hai chữ  QUYẾT THẮNG xếp bằng đá trắng trên sườn núi Quyết bên bờ  Bến Thuỷ  để biểu thị lòng quyết tâm đánh Mĩ của quân và dân Nghệ an vẫn còn sáng rực lên dưới ánh ban mai.
   Đoàn tàu Thống nhất dừng ở Ga Vinh 30 phút để tiếp dầu máy, thời gian đủ cho hành khách ùa xuống sân Ga bụi băm, lổn nhổn gạch đá để làm vệ sinh cá nhân bằng cách mua từng ca nước của người dân quanh khu vực ga gánh ra phục vụ với giá cắt cổ. Biết chắc là chú Kim không dám ăn thức ăn gông gánh bán trên sân Ga, Huy Đông lẵng lặng ra một hàng cơm ở góc khuất của Ga mua 1 đĩa cơm nhỏ ăn vội vàng vì đói. Thanh niên trong nước như anh thì quen như vậy rồi chứ Viêt kiều về thăm quê hương đố ai dám ăn thứ thức ăn biết chắc mười mươi là không đảm bảo vệ sinh trên sân ga như vậy. Bên góc sân đằng kia Tiến sĩ Đức đang đi tản bộ tìm sự thư giản sau một đêm gò bó trên tàu. Gió thổi bay mớ tóc mỏng,  làm lộ hẳn vâng trán hói của ông. Chắc ông cũng rất thích nghi với những chuyến đi thương xuyên như thế này rồi, kinh phí mời vao Nam dạy của các trương Đại học phía Nam không đủ để cung cấp vé Hàng không cho các Thầy, cả người mời và người được mời đều hiểu và thông cảm lẫn nhau vui vẻ chịu đựng, đất nước ta còn nghèo mà!.
  Chỉ ra khỏi Ga Vinh một chốc, là đoàn tàu Thống nhất đã đi vào địa phân  của tỉnh Hà tĩnh, quê hương của Đại thi hào Nguyễn Du. Con đường sắt có lúc chạy dọc theo bờ của con sông La xinh đẹp, thơ mộng. Bên sông những xóm làng xanh mướt màu xanh cây cối, màu xanh thẫm của mít, của cau, của cây cọ lá rộng và của những vạt chè mơn mỡn với búp non xanh nhạt vươn cao. Có lúc cao hứng, đoàn tàu lượn minh ra sat bờ biển hứng gió qua rừng phi lao vi vút gió biển Đông. Phía xa xa chân mây là dãy Hồng lĩnh  với 99 đỉnh núi nhấp nhô hùng vĩ bao bọc sông Ngàn phố, thượng nguồn của La giang. Cảnh vât đẹp đẽ, không khí buổi sáng trong lành khiến ông Kim, ông Đức đều chưa muốn lên giường nằm đọc sách. Câu chuyện lại được Tiến sĩ Đức gợi mở:
-         Anh Kim, anh là người sống xa quê hương đất nước lâu năm, lại là người chuyên sâu trong nghiên cứu khoa học Xã hội nhân văn, anh nghĩ gì về Truyên Kiều, về Nguyễn Du. Gần đây ở Việt nam, xuất hiện một vài ý kiến không theo dòng chính thống đề cao vị trí của Truyện Kiều như chúng ta vẫn có từ trước đến nay. Sợ rằng tầm nhìn quẩn quanh trong nước, thiếu khách quan, từ nước ngoài anh thấy thế nào ?
Ông Kim vui vẻ:
-         Có vẻ Tiến sĩ đang thực hiện một cuộc toạ đàm mini trên chuyến tàu xuyên Việt. Vì cuộc toạ đàm đang chuyển động với vân tốc 60 km/ giờ, nên tôi cũng cho tư duy phóng khoáng hơn, và cũng lưu ý dây chỉ là suy nghĩ của cá nhân tôi một phần có từ trước, một phần mới loé thêm ngay vừa mấy phút trước đây thôi:
      Trước hết tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm truyên thơ độc đáo trong nền văn học cận đại Việt nam. Kể chuyên bằng thơ trong văn học nước nào cũng có, nhưng ý tứ súc tích chặt chẽ, từ ngữ bay bướm uyển chuyển đến từng câu, từng từ trong suốt cả câu chuyện thơ thì có lẽ chỉ có Tiên Điền Nguyễn Du mới làm được. Một học giả dù khó tính nhất cũng khó tìm được một câu thô hoặc chênh trong truyên Kiều.
       Thứ hai: Truyên Kiều là một mẫu mực tuyệt vời trong sử dung ngôn từ, rất kì lạ ở chỗ, cụ Nguyễn kết hợp hài hoà giữa ngôn từ bác học với ngôn từ bình dân, Ngôn từ vốn là bác học vào truyện Kiều bỗng hoá bình dân và ngược lại nhiều ngôn từ dạng „đầu trâu mặt ngựa, ào ào như sôi“ vào truyện Kiều không còn sự thô ráp của câu chửi ngoài đường ngoài chợ nữa.
        Ba là: Trong Truyện Kiều tất cả các thủ pháp diễn đạt văn học đều được cụ Nguyễn sử dụng một cách khéo léo đúng cách, đúng chỗ. Từ lối nói ẩn dụ, ngoa dụ, hoán dụ, liên tưởng, ngụ ngôn, ngụ ý, điển cố, điển tích… đều đươc người đọc tiếp nhận một cách thoải mái từ Truyện Kiều.
      Nhưng nói Truyện Kiều là một tác phẩm văn học chuẩn mực nhất đại diện cho nền văn học Việt nam cận đại, bản thân tôi thấy không đươc xác đáng thông qua những vấn đề như sau:
       Thứ nhất: Một tác phẩm văn học lớn thì phải lớn toàn diện, chí ít ra phải có nghệ thuật lớn và nội dung lớn. Truyên Kiều của Nguyễn Du rõ ràng là không chuyển tải một nội dung lớn, cốt truyện vụn vặt, nhân vật vụn vặt, cá nhân nhân vật xử lí tình huống cuộc sống không thông minh lại mang tính tiêu cực, không có tác dung giáo duc như ở hành động hiếu nghĩa được đề cao nhất của Thuý Kiều là bán mình chuộc cha, rõ ràng là không tiêu biểu cho tài trí của một người con nói chung và của một người con gái tài sắc có thừa như Kiều, hôm nay ép được Kiều bán mình rồi lấy gì đảm bảo cho Thuý Vân không phải bán mình một lần nữa để chuộc cha ở một ngày đẹp trời nào đấy khác.
       Thứ hai: Cốt truyện của Truyện Kiều là ngoại lai xa lạ với Người Việt và Văn hoá Việt. Các dịa danh trong truyên Kiều không dược tác giả Việt nam hoá mà cứ tuỳ tiện nêu lên một cách lạ hoắc khiến truyện Kiều muốn hiểu đươc phải có một phần từ điển đồ sộ kèm theo. Điều đó thể hiện Truyện Kiều không có ý sáng tác vì dân tộc Việt, vậy không thể gọi là tiêu biểu cho nền Văn hoá Việt được.
  Ở Việt nam có một thời rầm rộ tranh luận quyết liệt thậm chí dẫn đến tù đày về quan điểm sáng tác: Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân sinh. Trong trường hợp Nguyễn Du và Truyên Kiều của ông, chúng ta nghĩ như thế nào ? Anh Đức! xin mời anh cho ý kiến !
-         Theo tôi, khi xem xét giá trị một tác phẩm văn học chúng ta cần đặt trong điều kiện lịch sử ra đời của nó. Nghĩa là thời điểm Nguyễn Du sáng tác Truyên Kiều là thời kì Văn hoá Viêt nam chịu ảnh hưởng sâu nặng Nho giáo Trung hoa, các phẩm văn học ra đời dù muốn hay không phải mang tính uyên thâm khoa bảng mới được tầng lớp thương lưu học vấn tiếp nhận và phổ biến, nhằm nâng cao uy tìn của tác giả trong thế giới thơ phú quan lại. Quan niêm sáng tác bị ảnh hưởng do nhu cầu thưởng ngoan ngâm vịnh tao nhã của đẳng cấp hay chữ. Nguyễn Du không thoát ra khỏi thời đại của ông được là điều dễ hiểu.
Tiến sĩ Đức ngừng lại quay sang Huy Đông:
-         Cháu Đông chắc cũng muốn bày tỏ suy nghĩ của mình phải không ? Thanh niên vơi những tìm tòi mới có cách nhìn phù hợp thời đại hơn chăng ?
Huy Đông không có ý định tham gia vào câu chuyên của hai người lớn tuổi trong đề tài này. Hiểu biết của anh về truyện Kiều chưa vượt qua những gì mà cậu học trò phổ thông Huy Đông thu nhận được trước đây. Nên anh chỉ bày tỏ một ý kiến nhỏ:
-         Thưa hai chú! Thời đại hiện nay và nhất là trong những thập kỉ đến xã hội loài người được sự trợ giúp khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển  mạnh mẽ, hiện đại hơn, tiện nghi hơn sẽ xoá dần sự khác biệt địa lí, dân tộc. Trong quá trình toàn cầu hoá thì nhu cầu giao lưu , trao đổi Văn hoá giữa các châu lục, giữa các quốc gia, lãnh thổ và giữa các Dân tộc là không thể tránh khỏi, nếu không muốn nói là một tiêu chí đánh giá mức độ phát triển của một Dân tộc nào đó. Vấn đề là ở chỗ tư thế và phương pháp giao lưu Văn hoá của tưng Dân tộc, Quốc gia như thế nào để những gì nhân được qua tiếp xúc hấp thụ những tinh hoa của nền văn hoá khác là nhằm phong phú thêm cho cái gốc Văn hoá của minh, bồi bổ cho cái cây Văn hoá dân tộc càng vươn cao hơn đep đẽ hơn. Như vậy, khái niêm Văn hoá thuần Việt có nội hàm như thế nào khi trong ngôn ngữ phổ thông, phương tiện chính để sáng tác , chuyên tải nội dung cũng như nghệ thuật Văn hoá Việt, lại được cấu thành  từ gần 80% từ vựng  là từ có gốc Hán Việt ? Rõ ràng rằng các từ Hán ngữ bất luận bị động hay chủ động vào cộng đồng dân tộc Việt dần dần bị Việt hoá và trở thành tử Việt thuần có gốc Hán, măt khác trong sử dụng chúng ta thấy các ngôn từ, chữ viết ngoại lại chuyển tải tư tưởng tốt hơn, tiết kiệm mọi mặt hơn thì ta dùng, như việc Latinh hoá chữ viết của chúng ta thành chữ Quốc ngữ chẳn hạn, chính nhờ thao tác đó mà nên Văn hoá Việt được nâng lên một tầm cao mới cả về chất và luợng.
     Trong Trường hợp Truyện Kiều của Nguyễn Du, thú thật cho đến nay đọc nó cháu không thấy nó gần gũi, ấm lòng được, mà thấy xa cách kênh kiệu nhiều hơn, rõ ràng cảm giác đó từ chỗ nó không phải là văn hoá Việt, cái hồn Việt ít hơn cái hồn ngoại lai. Nói hơi quá, cá nhân cháu vẫn cho rằng cái tài của Nguyễn Du ở đây là nghệ thuật dịch thuật phóng tác điêu luyện một câu chuyện „ Kim Vân Kiều truyện“ của ngưòi Trung hoa. Một hiện thực không thể cho qua được khi xác tín Truyên Kiều là thuộc Văn hoá Việt đích thực hay không ? là ở chỗ, dù rất nổi tiếng, nhưng ở Viêt nam truyện Kiều chưa được dựng thành một tác phẩm sân khấu hoàn chỉnh nào cả, tại sao vậy ?Vì sân khấu Việt không có khả năng, hay tuy hùa nhau tung hứng, nhưng tự trong thâm tâm các nhà hoạt đông sân khấu xưa và nay, không mấy trọng thị Truyên Kiều như là cái hồn khí linh thiêng của dân tộc con Lạc cháu Rồng, càng có ý khinh khi  cái bất đắc chí của những nhân vật trong Truyên Kiều ? Ngay Nguyễn Du cũng chỉ xem tác phẩm của mình là cái thú vui nhàn tản,  lười biếng, nho nhã của mấy ông Adam: „ mua vui cũng đủ một vài trống canh“ khi đươc ông viết cuối Truyên Kiều của mình đó sao ? Theo thiển ý hơi quá đáng của cháu , thì dù chúng ta thật sự chưa có những đứa con như mong ước, thì cố đẻ bằng được để ca ngợi tự hào, hà cớ gì lại tự hào đứa con Tu hú đẻ nhờ, vừa mất công vừa bị cười là kẻ u ơ.
  Trước ý kiến táo bạo hơi có phần quyết liệt của Huy Đông, cả 3 người đồng hành lớn tưổi của anh đều hơi nghỡ ngàng. Anh biết rằng,  dù ở đâu và làm gì, tư duy gá dựa, ăn theo vẫn chưa bao giờ  đươc dứt bỏ trong nếp suy nghĩ học hành của đa số trí thức Việt. Sở dĩ ai cũng phải chọn lối tư duy ấy là vì bản năng tự vệ bắt họ phải làm như vậy trong cuộc sông đầy trắc trở rinh rập xung quanh: đầu tiên là tiểu pháp giấu mình, tiếp theo là cách sống hai mặt, dần dần thành thói quen để rồi đánh mất mình, nhu nhược.
    Bà cụ Na phản đối:
-         Cháu ơi, người Việt mình ai cũng trót yêu và tự hào về Truyên Kiều mất rồi, cháu đông chạm vào đấy là đông vào tử huyệt đấy ! Tuy bà không đủ lí lẽ để tranh luân với cháu ngay bây giờ, nhưng bà cho rằng Truyên Kiều và Nguyễn Du xứng đáng để ca ngợi như là một Tuyệt tác và một đại Văn hào lớn của Việt nam. Nói chuyên với nhau đây thì được, chứ ở nơi khác tai vách mạch rừng là dễ mang hoạ vào thân đấy.
          Hai ông Kim và Đức bật cười với lời khuyên chí tình tuy hơi chút răn đe            của bà lão, còn Huy  Đông thì  gượng gạo:
-         Thì cháu cũng đã nói trước là cháu nói lên suy nghĩ của riêng mình, trong phạm vi mấy bà cháu ở đây thôi. Nhưng dù sao, cháu vẫn bảo lưu ý kiến của mình như một tuy duy sáng tạo. Cháu cám ơn Bà vì đã nhắc cho cháu biết cháu đang sông và làm việc ở thời điểm chưa cho phép bày tỏ ý kiến ngược chiều với số đông, nhưng cháu hy vọng sẽ đến một thời kỳ nào đó tư duy phản biện cũng là một nếp sống bình thường trong tranh luận Khoa học mà không hề bị qui chụp.
-         Trung thực là đức tính tốt đẹp của một con người sống tốt trong xã hội nói chung, đối với một nhà khoa học thì tính trung thực cần phải nhân gấp đôi - Tiến sĩ Đức nói – Nhưng trung thực với chính bản thân mình mới là điều quan trọng nhất phân biệt một người đang sống với  một người đang cố tồn tại, Cháu có hiểu ý của chú không ? Chắc cháu đã đọc chuyên „ Chiếc áo khoác của nhà vua „ của anh em Grimm rồi chứ, chính tính trung thực với chính mình đã khiến đứa bé vạch trần sự lừa dối của nhưng tên bịp bợm, còn tất cả người khác, ở bất cứ vị trí nào kể cả ông vua đầy quyền lực đêu không trung thực với chính mình, thì lấy đâu trung thực vơi ngươi khác.
Có thể né tránh xử thế trung thực, có thể biện hộ sự thiếu trung thực trong hành động bằng hàng ngàn lí do có thể chấp nhận được, nhưng không bao giờ có thê biên hộ sự thiếu trung thực đối với chính mình vì đó là cội nguồn của tội ác.
  Câu nói hơi lộn xộn, có đoạn hơi bị tối nghìa của Tiến sĩ Đức như là một lời bày tỏ, tự sự hơn là một lờ răn dạy. Làm một nhà khoa học trung thưc quả là khó khăn.
   Lúc này đoàn tàu Thống nhất đã ra khỏ vùng núi non thuọc dãy Trường sơn phía tây tỉnh Quảng bình và dần càng tiến nhanh về phía thị xã Đồng hới. Cứ mỗi lần ngang qua mảnh đất còn hằn vết đạn bom này, Huy Đông lại không bao giờ ngăn lại được một nỗi niềm cảm động dâng nghập tâm hồn mình. Ngừơi dân Quảng bình vượt qua những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất với tinh thần anh dũng tuyệt vời, với lòng yêu nước một cách thơm thảo thật thà là môi trường cưu mang gia đình Ba mẹ, anh em Huy Đông trong lúc dừng chân trên đưòng tìm về quê nội miền Nam. Kỉ niệm luôn ào về tư nhưng ngày…

                                                  Chương 3

                                                 Chiến tranh
                                         Người Cha và Dòng tộc

    Đồng hới năm 1960 là một thị xã nhỏ nhắn, xinh như một cô học trò áo trắng đứng hong tóc  bên dòng sông có cai tên rất gợi cảm: sông Nhật lệ. Thật lạ lùng, trong khi rất nhiều vùng đất xinh đẹp, trù phú khác có địa danh tất mộc mạc, thì trên mảnh đất Quảng bình nhỏ hẹp và nghèo đói này, thiên nhiên khắc nghiệt nhất nhì cả nước này, các địa danh lại rất mỹ miều. Bờ bên kia của dòng sông lấp lánh ánh nắng là làng chài Bảo ninh nằm trên doi cát  hình chàng trai khoẻ mạnh đang đưa tấm lưng trần cháy nắng chắn gió bão biển Đông cho cô gái yêu kiều Đồng hới. Bảo ninh là một làng biển rất hiếm khi vắng gió trên hang dương liễu phía biển để bên này các nếp nhà nhỏ nhắn nép dưới bóng rừng dừa cong mình soi bóng xuống nước sông Nhật lệ trong xanh, yên ả. Cát trắng, trắng đến ngút  tầm mắt, nhấp nhô thành gò thành đụn, làm thành một cửa sông lấp lánh nắng miền Trung. Đường Đào duy Từ chạy dọc bờ sông Nhật lệ, nối cầu Mụ Kề với nhà thờ Tam toà thông xuống Bến sông Hải Thành dập dềnh tàu thuyền. Cổng Quảng Bình Quan là lối vào của du khách đi vào khu phố Thành mĩ từ đường Quốc lộ số 1. Từ đây hướng mắt về hướng tây chúng ta bắt gặp dãy Trường sơn có ngọn núi U bò hằn nét lên chân trời xanh thẩm. Thị xã Đồng hới cũng được nổi danh của Thành luỹ ngăn đường tiến quân của những ai muốn vào Nam xâm lược đó là Luỹ Thầy, được xây bằng gạch nung kết gắn bởi mật ong trộn với một thứ cây leo Long Bong giã nhỏ rất Quảng Bình. Chính nhà quân sự lỗi lạc của vương Triều Nguyễn Đào Duy Từ trực tiếp thiết kế và chỉ huy xây dựng thầnh luỹ đặc biệt này. Những công trình nổi danh nhất thời bấy giờ của thị xã xinh đẹp này chỉ có thể kể đến Nhà thờ Tam toà, toà nhà của Toà án nhân dân và Tháp chứa nước đứng chênh vênh giưa phố. Nhà của gia đình Huy Đông nằm ngay bên hông Toà án, trên cây cột cổng bằng gạch có đắp nổi con số 10, nhà số 10 đừong Dào Duy Từ. Ngay lối vào có giếng nước với thành giếng xây cao hình tròn ngang tầm bung người lớn, cây khế ngọt bên giếng toả bóng xum xuê che mát cho mẹ Huy Đông những trưa hè ngồi giặt những chậu quần áo đầy tràn cho bầy con. Với 5 thằng con nghịch ngợm thì việc giặt giũ đã chiếm rất nhiều thời gian và công sức của bà mẹ suốt đời tần tảo hi sinh.
   Tuy chỉ cách Giới tuyến chia cắt tạm thời Hai miền Nam Bắc không xa, nhưng cuộc sống của miền Bắc Xã hội chủ nghĩa rất thanh bình ở thị xã xinh đẹp này. Nhiều ngừoi con của miền Nam đã ra Bắc theo tinh thần Hiệp đinh Geneve đã chọn Đồng hới lam điểm dừng chân chờ ngày Thống nhất hiệp thương trở về quê hương vì từ đây chỉ cần theo đường quốc lộ số 1 xuôi về hướng nam chừng 50 km là đến thị trấn Hồ xá của khu phi quân sự Vĩnh linh, rồi cũng chỉ đi 1 tí nữa là đến đầu cầu Hiền lương nổi tiếng bắc qua dòng sông Bến hải – Vĩ tuyến 17 – ranh giới tam thời phân tách 2 chế độ chính trị theo hiệp ước đựoc kí kết tại  Geneve vào năm1954. Một đất nước bị chia cắt li tán đầy nước mắt, trong tâm thức người Việt đó là nỗi khắc khoải bi thương cho từng cá nhân, tưng gia đình và từng dòng họ. Một nhà thơ từ Hylap xa xôi đền thăm Quảng bình đã thốt lên:
                Việt nam đất nước biếc xanh
                 Và dài như một chiếc đàn bầu
                 Mà sợi tơ đàn bỗng bị đứt ngang
                 Nơi lẫy đàn, dòng sông Bến hải
                 Dòng sông đó vẫn còn lệ chảy
                 Và tiếng ca bỗng tắt giữa chừng
                  Việt nam, anh đứt giữa thân mình
                 Gươm đâm chém còn trong tay thù địch
      Anh em Huy Đông thương là nhưng đưa trẻ nghịch ngợm nhất trên bờ bến Tam toà. Ba mẹ vắng nhà, bà ngoại bận bịu việc nhà, nên trách nhiệm cai quản các em trai Dần, Nhật, Đông giao cho anh trai Cả Lê Huy Tân  12 tuổi cáng đáng. Đá bóng bưởi trước sân nhà thờ, ngịch cát dưới bóng râm hàng phương vĩ bên bến xuống sông, đánh trận giả trong vườn cây của toà án … thật thú vị cho ba anh trai lớn, nhưng thật phiền phức khi phải luôn canh chừng cậu em trai Huy Đông 3 tuổi đầy hiếu động thì không dễ dang chút nào. Vây là một sáng kiến rất hiệu quả cho đến khi bị một bác già miền Nam tập kết mách với bà mẹ lũ trẻ rằng, thằng cu Huy Đông liện tục bị các anh trai chôn đứng giữa đống cát dưới gốc cây, đầu được che bằng một chiếc nón mê. Cu cậu khóc chán rồi ngủ, không còn cách nào quấy phá làm vướng chân các anh trong các trò chơi. Ngay lập tức máy ông anh trai bị mẹ cho một trận roi xoắn đít. Nhưng cũng chỉ là chuyên vặt thôi, vì đòn roi đã trở thành cơm bữa đối với mấy ông tướng nhà Lê Huy rồi: Đánh nhau với lũ trẻ cuối phố, ăn đòn của Ba. Dung dao nhọn chọc lỗ ở những trái non của rặng dừa Xiêm trong dọc sông mang tên „ Rặng dừa Binh Trị Thiên kết nghĩa“  để nằm há miệng hứng nước dừa, bị phát hiện ra, chuyện đến tai mẹ, lại ăn đòn. Rủ nhau xuống sông Nhật lệ tắm không xin phép mẹ cha, lại bị đòn. Trèo tương ăn trộm nhãn của biệt thự trong phố, bị roi nữa … dau lắm, hứa hen xin chừa mãi nhưng ra đến phố lũ trẻ lại quên ngay trước nhưng trò nghịch hấp dẫn mời chào.
   1964, chiến tranh đang đến gần, thi thoảng còi báo đông thực tập cho dân thị xã sẵn sang đối phó với khả năng leo thang đánh phá miền Bắc của không quân Mĩ. Những ngư dân của Hợp tác xã đánh cá Đồng thành báo cho dân thị xã về việc tàu chiến Mĩ đã lởn vỡn ngoài khơi Vịnh bắc bộ. Dân quân và bộ đội đêm ngày tuần tra nghiêm ngặt hướng Đồng thanh và Bầu tró vì đã có lần biệt kích Nguy xâm nhập từ biển vào tìm cách đặt mìn đánh phá tram hải đăng bên cửa sông. Cang ngày không khí chiến tranh càng nóng thêm ở miền Bắc, Tổng thống Mĩ tuyên bố sẽ tiến hành mở rông chiến tranh ra toàn Việt nam trước những thất bại trên chiến trường miền Nam, ham đội 7 của quân đội Mĩ với các tàu sân bay đước đưa sâu vào vinh Bắc bộ, máy bay ném bom hiện đại F105 „thần sấm“, F4 „Con ma“… tập kết ở trên các tàu sân bay, ở san bay Corat, Tapao (Thailand) hù doạ một cuộc tấn công bằng bom đạn đè bẹp mọi sự phản kháng của lực lương quân đội miền Bắc Việt nam. Cả Miền Bắc vào cuộc chuẩn bị „đón tiếp“ đích đáng nhất đối với quân xâm lược hống hách kiêu căng nhất thế giới này. Ở Đồng hới, lực lượng phòng không các loại luôn luôn trong trang thái sẵn sàng, tàu chiến Hải quân với các ụ súng chĩa nòng lên trời đậu trong cửa sông Nhật lệ không còn là hình ảnh lạ mắt đối với những đứa trẻ hiếu động ở ven bờ sông . Nhịp sống sẵn sàng chiến đấu chi phối tất cả những hoạt đông giờ không còn bình yên nơi đây, trong khi đó đài , báo liên tục đưa tin về chiến thắng trên các mặt trân ở miền Nam do đó ai cũng biết giờ G chiến tranh ở miền Bắc đang đến gần. Ông bố nhà Lê Huy vốn vẽ đẹp, xung phong vẽ Pano tuyên truyền, làm việc miệt mài sau giờ làm việc ở công sở, khoảng sân có hòn non bộ dưng đầy hình vẽ cổ động Bộ đội, dân quân dương cao súng tiến lên theo cờ đỏ sao vàng tung bay. Tin tưởng và quyết tâm theo Đảng đánh cho Mĩ cút đánh cho Nguy nhào tràn ngập lòng người. Đêm đêm thanh thiếu niên của Thị xã rồng rắn kéo đoàn qua các đường phố đồng thanh hô vang khẩu hiệu: „Đả đảo Đế quốc Mĩ ! Quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ xâm lược“ „Đảng Công sản Việt nam muôn năm ! Hồ Chủ Tịch muôn năm!“… thật sự hào hùng.
        Cậu bé Huy Đông 6 tuổi được Ba dẫn đi nhập học lơp1 ở Trường cấp 1 Thành Mỹ. Ngày đi học đầu tiên thật là vui, mặc dầu cậu chẳng có đủ dụng cụ và sách vở. Lương viên chức  của Ba mẹ cậu chẳng có thể cùng một lúc mua đủ cho tất cả các con những dụng cụ học sinh thiết yếu mỗi khi năm học đến, trong khi nhân khẩu gia đình tăng lên hai em nữa sau Huy Đông. Lòng mong ước của hai ông bà có một đứa con gái đã thành hiện thực, nhưng hậu quả là gia đình nhà Huy Đông trở thành ngày cang thiếu hụt thêm. Vì một lí do cộng thêm nào đó, ông bố không có được cuốn Tập đọc lớp 1, nên Huy Đông đến trường với một cuốn sách giáo khoa rất đặc biệt và hiếm có nhất: các bài học có đủ hình minh hoạ được người cha sao chép tỉ mỉ lại trên mặt sau của một cuốn hoá đơn dùng trong kế toán Ngân hàng, nơi ông là nhân viên của phòng Hành chính. Cuốn sách nguyên bản được ông bố mượn lại của gia đình hàng xóm. Lòng cha ở một gia đình công chức nghèo thật là kì diệu.
          Ba của Huy Đông  là con trai của một gia đinh giàu có trong kinh đô Huế, từ tấm bé ông được nuôi dạy trong những điề kiện tốt nhất lúc bấy giờ. Ông có thể sử dụng Tiếng Pháp thành thạo như một người  sống ở Paris lâu năm, có năng khiếu hội hoạ và âm nhạc, ông  đã từng được  cha mẹ cho theo học bài bản trong trường nghệ thuật. Thời còn là một chàng công tử của thành Huế, với sức vóc của một thanh niên chăm luyên tập thể thao, anh là là niềm mong ước của nhiều cô nữ sinh áo trắng trường Đồng khanh bên bờ sông Hương. Nhưng theo  dong biến động của đất nước, ngược ý muốn của  những người thân thích, anh bí mật tham gia kháng chiến để rồi xa gia đình  ra miền Bắc gia nhập lực lương bộ đội vào năm 1947. Khi đầu quân vào quân đội Cách mạng anh chưa biết được rằng chàng Công tử Tây học như anh sẽ phải chịu rất nnhiều gian khổ thiếu thốn cộng với nỗi buồn vì nghi kị lí lịch sẽ làm anh tàn tạ chỉ sau một thơi gian không dài nữa. Những thiếu thốn vật chất công với kí sinh trùng sốt rét đã huỷ hoại tuổi trẻ của anh trong nhưng cánh rưng Việt bắc, mặc dù lòng can đảm, nhiệt tình yêu nước vẫn luôn tràn trề trong anh. Không thể làm một người lính trí thức được nữa, anh trở về bên người vợ vốn là con gái của một thầy giáo trường làng trong vùng kháng chiến miền Trung, rất xinh đẹp đoan trang. Cô cũng như bao thanh niên thời đó không chịu ở nhà, trốn cha thoát li đi làm cách mạng, điểm gặp của hai người là trong một xưởng quân giới ở Hà tĩnh, khi đó cô đã vinh dự đúng trong hàng ngũ của Công sản theo sự giới thiệu của anh trai của cô, một chiến sĩ anh dũng của Trung đoàn Thủ Đô anh hùng. Tinh yêu mãnh liệt của hai người tạo nên một gia đình đông con và thiếu thốn, nhưng không vắng tiếng đàn ca. Để có thể tận dung hết khả năng của mình hai vợ chông trẻ xin chuyển ra công tác ở vùng thành phố. Trong quá trình chuyển dịch về gần quê hương miền Nam, thị xã xinh đẹp Đông hới là chốn dưng chân chờ kết quả của cuộc Tổng tuyển cử theo tinh thần hiệp định Geneve. Con cái 3 năm một đứa chào đời làm cho gánh năng gia đinh ngày cang đè trĩu trên vai vợ chồng trẻ. May mắn cho họ là bà Ngoại thương con gái không lúc nào không ở cạnh con cháu, công việc gia đình dưới bàn tay của bà cụ trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều, tuy vậy mong ước phấn đấu trong sự nghiệp không còn sôi suc trong lòng họ được nữa vì miếng cơm manh áo chiếm hết tâm trí của cả hai vợ chồng. Tai hoạ dai dẵng từ những di chứng bênh tật mang về từ quân ngũ lam cho người cha tài hoa hết lòng hi sinh vì vợ con càng không có cơ hội hồi phục sức khoẻ. Sau khi phải chịu giải  phẫu cắt đi một phần dạ dày, một phần phổi trái do hút nhiều thuốc lá quấn đầy độc hại, ông bố của gia đình đông con này chỉ còn có thể làm được nhưng công việc thật nhẹ nhàng. Rất yêu âm nhạc và hội hoạ, nhưng không đủ tiền sắm một cây đàn ông tham gia hoạt đông van nghệ của phừong để có thể mang về nhà một cây đàn Gitar cũ, tối tối ngồi trước sân khe khẽ hát những bản nhạc trữ tình da diết nỗi lòng của người con xa xứ. Giai điệu của Bài ca hy vọng, Thiên thai, Quê tôi người miền nam, Cánh tay Miền Nam trên đất Bắc đi vào lòng của nhưng đứa con của ông cho đến tân bây giờ mãi còn ngân vang.
 Trong thời kì bao cấp nghèo nàn và ấu trĩ này không ai lấy làm buồn vì ngheo cả, mà ai có biết ấm no là gì đâu  mà so sánh ,mà ước mơ. Nghĩ và mong ước sồng trong giàu sang là bị qui chụp vào quan điểm đi ngược lại giai cấp cách mạng, người nào muốn vươn lên những vị trí cao trong xã hội cần phải có một lí lich thuần là nông dân lớp dưới hoặc phải nghèo, càng có gốc tích nghèo hèn càng tốt. Với vốn ngoại ngữ thông thạo, có tài chơi đàn gitar diêu luyện, vẽ rất giỏi, ông bố của gia đình đông con này không thể nào có cơ hội vươn lên vì nguồn gốc xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản trong Huế. Không có chức vụ cao tức là không bao giờ được có tem phiếu đặc biệt để mua hàng nhu yếu phẩm đầy đủ cho gia đình mình, vậy là  vợ con anh chịu đựng sự nghèo đói triền miên.
     16 giờ, ngày 5 tháng 8 năm 1964 là một là thời điểm định mệnh đối với thị xã xinh đẹp Đồng hới. Bầu trời trong xanh bỗng chốc đen kịt hàng đoàn máy bay nếm bom của Không quân và Hải quân Mỹ. Không gian đinh tai nhức óc tiếng gầm rú của đông cơ phản lực, tiếng bom nổ, tiêngsúng phòng không chống trả va lẫn trong đó la tiếng kêu la, gọi tìm nhau thất thanh, tiếng rên la và tiếng trẻ con khóc hoảng loạn. Quảng bình chìm trong biển lửa chiến tranh. Tất cả người dân Đồng hới ngay trong đêm đó với nước mắt lưng tròng từ biệt thành phố xinh đẹp của mình tránh nạn, tuy biết chiến tranh là tổn thất nhưng không ai ngờ Đồng hới của họ chỉ một thời gian ngắn ngủi sau đó bị huỷ diệt hoàn toàn, chỉ sót lại một chiếc tháp nước cụt hẳn 1 chân và 1 mảnh tường trơ trụi của nhà thờ Tam toà giữa những đống  gạch vụn nghi ngút khói. Dù Đồng hới hôm nay đang đươc xây dưng lại to lớn hơn, đẹp đẽ hơn, nhưng đối với Huy Đông không còn là thị xã xinh xắn, nhỏ nhắn nơi anh đươc sinh ra, không còn thành phố của kí ức của một đứa trẻ lên 6 năm rạp giữa lòng con phố Đào Duy Từ, khiếp lặng trong bàng hoàng sợ hãi giữa buổi chiếu khủng khiếp đó. Chiến tranh đã cướp mất của anh và thế hệ tuổi thơ như anh những năm tháng ngây thơ và thanh bình, bắt bọn anh bước chân non nớt vào đời trong trạng thái cận kề sống chết, cướp mất vĩnh viễn Đồng hới của anh về nơi hư vô và chỉ để đọng lại trong thế hệ anh một mãnh đất của những kí ức hào hùng vưon trên nền bi thương của một dân tộc vốn lúc nào cũng khát vọng hoà bình, tự do.
Đoàn tàu nhẹ nhàng vượt qua thị trấn An hoà trườn dọc theo xa lộ Thống nhất hướng về thành phố Huế. Đến Huế rồi , về đến nhà rồi, nhưng lại là đến lúc giã từ, Huy Đông nao lòng cầm hai bàn tay bà lão Na trong khi bà đã rơm rớm nước mắt nhắc đi nhắc lại:
-         Địa chỉ của bà đã đưa cho cháu rồi, ra bắc cháu nhớ ghé thăm nhà Bà cháu nhé. Nhớ đấy nhé !
-         Vâng cháu nhớ, cháu chúc Bà gặp nhiều niêm vui trong chuyến đi thăm con cháu trong Sài gòn. Cháu hẹn gặp bà ở Hải dương, Bà nhé.
      Sông Hương trong nắng chiều lấp loáng giát váng son. Từ cầu Bạch hổ có thể  nhin ngút một tầm mắt một thành phố thơ mộng, nhấp nhô đền đài lăng tẩm. Cột cờ Phu văn lâu vững chãi, vươn cao trên nền trời vang rưc nắng chiều hè. Nhìn dọc dong sông , hai chiếc cầu Phú Xuân và Trường tiền dường như chập vào nhau thành một, giờ tan tầm tấp nập người xe, che một phần Cồn hến mướt màu xanh Vĩ dạ xa xa
        Người Huế yêu Huế qua rất nhiều cung bậc, yêu dòng sông, yêu con đò lẻ loi, yêu câu hò mái nhì mái đẩy,yêu cốc chè thập cẩm, yều tà áo trắng, yêu nhũng ngày mưa dai dẳng đạp xe chầm chậm dọc những con phố nhỏ rợp bóng cây. Trong một chiều  sông Hương bên một cô gái Huế, Huy Đông bỗng chợt nhận ra rằng,  anh yêu Huế những lúc đi xa qua giọng con gái Huế: Thánh thót, nhẹ nhàng, luyến láy. Người Huế nói cứ như người ta bâng khuâng thẻ thót gõ từng chiếc chuông nhỏ trong nhiều chiếc chuông thanh sắc, trầm bỗng,treo duới dàn thiên lí rợp bóng  sân nhà vườn mạn Kim long  hay Vĩ dạ,  từ chiếc này sang chỉếc kia, khoan thai, nhẹ nhàng, ý nhị.
    Bữa cơm sum họp gia đinh rất vui , nhất là những đứa em của Huy Đông  vốn rất yêu quí anh trai , rất ngac nhiên vì thấy anh trai đột ngột xuất hiện trước cổng nhà lúc bóng chiều dã đâm nét trên các lá cây Lekima trong vườn, mấy anh em họ tạo nên  một sự ồn ào náo nhiệt trong  không khí gia đinh, vốn bị  trầm hẳn lại vì Ba của họ trở nên ốm yếu hơn trước. Mẹ anh đã kịp chuyển đổi một bửa cơm thường nhật sang bửa tiệc đón con trai, Huy Đông rất ngac nhiên. Theo anh biết qua lời của chú Kim khi chia tay trên sân ga Huế:
-         Ba cháu đang chờ cháu ở nhà, nhưng mẹ cháu thì không biết cháu về Huế. Chú với Ba cháu gọi cháu về là do một công viêc cần cháu giúp đỡ, Cháu sẽ biết là việc gì vào tối mai. Về nhà, theo dặn trước của ba chau, cứ nói với mọi ngươi là cháu về thu nhập tài liệu như trong đơn xin phép của cháu ở trường.
Như vậy sao mẹ anh lại có thể kiếm thêm thức ăn tươi ở đâu trong chiều muộn như thế này. Nhìn anh tần ngần tỏ ý ngạc nhiên, cô êm gái vui vẻ giải thích:
-          Anh Đông không biết chứ nhà mình có linh lắm đó, cứ mỗi bận con chim khách làm tổ trong vườn bay đến đậu trên cây đào trước cửa nhà kêu mấy tiếng là y như rằng có các anh đi xa về. Lần nào cũng vậy, miết rồi mẹ và em tin tưởng và mong chờ chim khách kêu hàng ngày. Chiều nay, thấy con chim lại lượn đến ăn trai cây đào và ríu rit mấy tiếng , em nhìn mẹ rồi chạy vội ra chợ xép gần nhà mua vội một số đồ ăn. Chứ cứ chờ anh về rồi mới lo thì sao kịp dược.
    Nghe em gái giảỉ thích, Huy Đông cảm đông lắm. Anh hiểu, lòng thương con sâu nặng ở mẹ anh đã tạo nên một sự liên kết vô hình với các người con và bà linh cảm đươc những gì đang xảy ra vối các con bà, dù họ đã lớn đã bay đi các phương trời, nhưng trong thâm tâm Bà, họ mãi mãi là những đứa trẻ cần sự chở che của Bà. Hơn nữa, dù linh cảm  của hai mẹ con không đúng thì một cái cớ tạo một bữa cơm thinh soạn hơn thường ngày cho chồng con ở nhà cũng có nhiều ý nghĩa trong lúc kinh tế có nhiều khó khăn thiếu thốn này.
Ông Lê Huy Tự nằm ở chiếc ghế rất đặc biệt mà ông đã tự đóng lấy cho riêng mình: nó là ghế khi ngồi thẳng, là giường khi nằm xuống và có cả một miếng gỗ mỏng làm bàn viết dù ở bất kì tư thế nào của chủ nhân. Chiếc ghế giường này của ông được gắn bánh xe để ông có thể di chuyển đươc một cách chủ đông trong nhà. Con trai của ông dã về theo yêu cầu của ông. Nhìn mấy dứa con quây quần bên mâm cơm, ông rất mong có một lúc nào đó cả gia đình sum họp đầy đủ hơn, vì 3 đứa con trai lớn không thể nào về đủ đươc khi đang công tác xa nhà, mỗi đứa con mỗi số phận đang vất vả trong đất nước mà để mua được một chiếc vé tàu về thăm gia đình họ phải danh giụm cả mấy tháng trời tiền tiết kiệm, chúng nó đã có gia đinh riêng có lo toan riêng ông không muốn làm xáo động cuộc sống của con cháu ông bằng những bí mật của dòng họ tryên từ dời này sang đời khác. Ông đã lẫn tránh, cố gắng trốn tránh trách nhiệm truyền nhân vì chính thất bại của chính mình, vì sự nguy hiểm sẽ đổ lên đầu ông và các con cháu của ông nếu bí mật truyên đòi bị phanh phui trong lúc này. Nhưng, Huy Đông là đứa con trai mà ông có cảm tưởng là nó được sinh ra để kế thừa trách nhiêm của ông trước dòng họ, Tổ tiên và đất nước. Bao năm tháng dằn văt, đấu tranh trong nỗi niềm riêng tư của mình công với bệnh tật kéo đến đã vắt kiệt sức lưc của ông, biến ông tuy mới ngoài 50 tuổi trở thành một phế nhân 70 tuổi. Và ông đã phải thừa hành trách nhiêm truyên lại cho con ông một nổi khổ từ một lòi nguyền vô vọng của tổ tông họ Lê.
 Mùa hè ở Huế rất nóng với những làn gió thổi ngươc từ phía tây tràn về, ngươi ta gọi là gió Lào, nóng rẫy và khô hanh. Loại gió lục địa nay vốn rất mát mẻ vì chứa nhiều hơi nước, nhưng khi dến đất Lào gặp phải Tây Trường sơn nó quay cương bứt phá để rồi nó phải thả hết hơi ẩm của mình để vượt qua dãy núi có những cao nguyên cháy nắng. Dến Đông trường sơn nó trở thành nóng nảy, cay nghiệt, cuồng điên để thốc thẳng xuống đốt cháy ruộng đồng làng mạc và những con người miền trung lam lũ bần hàn, nó hả hê lăn tròn trên mặt đất khô cằn, trên những mái nhà lơp tôn cong vặn lên vì nóng.
 Ở Huế ít người ngủ dậy muộn, vì ai cũng muốn công việc của mình được thực hiện trong lúc còn mát mẻ. 8 giờ sáng, chỉ còn hai cha con ở nhà, Ông Tự gọi:
-         Huy Đông ! vào đây ba bảo!
-         Dạ. Đông ngưng tay, dựng chiếc cuốc dùng để xới đất vào hang rào rau ngót bên lối đi trong vườn nhà. Anh rửa sạch mặt mũi chân tay thong thả vào nhà đến bên cha mình.
Ông Tự chỉ tay vào chiếc tủ thờ đặt trang trọng giữa gian chính:
-         Ba đã thắp hương cho tổ tiên rồi. Bây giờ con dẩy dịch tủ thờ sang hẳn một bên cho ba!
-         Dạ.
Đông phải dọn dẹp bộ bàn ghế bằng gỗ năng nề sang một bên tạo một khoảng trống cần thiết. Phải tìm cách mãi anh mới chuyển được chiếc tủ thờ lẹch hẳn, làm hở một khoảng nền nhà lát gạch.
Ông Tự đã đóng cửa chính và chốt lại cẩn thận đẻ tránh những ai ra vào bất chợt từ lúc Đông vừa vào nhà. Ông hướng dẫn con trai gỡ bỏ 4 viên gạch làm lộ ra một tấm nắp đậy được đúc bằng xi măng, đè lên một vuông đất mịn màng, nhẹ nhàng gạt đi một lớp mỏng Huy Đông nhìn thấy một chiếc thùng sắt  đựng đạn của lính Mĩ, loại thùng khi đóng chặt lại nước không thể vào bên trong được. Ông Tự bảo con trai mở nắp thùng sắt lấy ra một gói cuộn chặt bằng nilon đưa cho ông và ông bảo:
-         Đây những báu vật truyên lại từ xa xưa của dòng họ ta, con sẽ đươc biết chúng vào tối nay. Bây giờ con lần lượt làm ngược lai những gì con làm ban nãy, sao cho mọi thứ không để lại đấu vết gì. Sau đó con đi tắm rửa rồi đi thăm bạn bè và đồng nghiệp trên trường của con, nhưng nhớ là tối nay con phải đưa ba đến gặp chú Kim, nên gắng về ăn cơm sớm nhé.
Vâng lời cha, Huy Đông cũng đạp xe vào phố, nhưng anh không đi thăm bạn bè đồng nghiệp mà tìm đến quán café bên bờ sông Hương ngồi một minh. Lặng lẽ ngồi khuất sau một gốc si có những chùm rẽ dài thòng xuống mặt nươc, Huy Đông lắng nghe tiếng nhac không lời nhè nhẹ lan trên mặt nước từ chiếc loa giấu rất khéo trong hốc cây. Dù muốn hay không anh cũng không khỏi băn khoăn trước những sự kiện mà anh được chứng kiến, anh thầm trách ba mình vì việc hệ trọng dành cho anh nhưng không bàn bạc và tìm hiểu xem anh có chấp nhận cuộc chơi bí ẩn này hay không ? Anh đã trưởng thành, đã hoàn toàn ý thức dược những gì cần lầm và hoàn toàn có quyên từ chối, nếu như nhiệm vụ trái với trách nhiêm của một người công dân, phản lại lợi ích đân tộc, hoặc công việc anh phải làm trái với đạo đức làm người. Nhưng có lẽ nào cha của anh lại muốn anh lầm trái với những gì mà ông đã dạy con của ông từ trước đến nay, và không ít lần ông nhấn mạnh đến sự trung thực như là một đòi hỏi cao nhất của một người con dòng họ Lê Huy. Ba anh đã hành động theo kiểu như vây là ông hoàn toàn suy tinh kĩ càng, trước sự thể như vây Huy Đông nhận thấy cách khôn ngoan nhất là theo tiếp cuộc chơi một cách tỉnh táo cho đến khi biết rõ ý định của ba anh và những người bạn của ông, để có thể có đối sách thích hợp. Nhưng như vậy thật là mạo hiểm, vì anh đã biết sự thật liệu rồi người ta có cho  anh cơ hội lùi lại mà vẫn an toàn hay không ? hay là đã quá muộn ? Linh tính lại thúc anh nhận lời đi với Ba mình, vì việc anh sắp được nhờ cậy có một ý nghĩa nhân văn không một người yêu quê hương đất nước nào có quyền từ chối.
  Sực nhớ đến lời dăn của cô em gái trước khi đi làm:
-         Chiều nay anh  Đông sang đón em, để anh em mình đi chợ mua vải may quần cho anh, em thấy quần áo của anh đã lâu không có bộ nào mới cả. Liệu liệu ăn mặc tươm tất để em sớm có chị dâu với chứ.
Huy Đông rời quán café, đạp xe  hoà trong dòng người tấp nập xuôi theo đường Hà nội hướng vê phía nam thành phố.
19 giờ, sau bữa cơm chiều, Ông Tự nói với vợ:
-         Tí nữa thằng Đông sẽ đưa tôi lên Kim long thăm một người bạn, mấy mẹ con cứ đi nghỉ trước, không phải chờ ba con tôi làm gì.
-         Ông đang ốm, đi làm gì để bệnh tật nặng hơn. Để thong thả vài ngày nữa khoẻ rồi hẵng đi có được không.
-         Ba con tôi đi bằng Xích lô cũng không mệt lắm. Tôi đã hẹn rồi, không thể chuyển sang bữa khác được.
-         Đành vậy chứ biết cản ông sao được-  Bà Tự nói trước khi xuống bếp dọn dẹp cùng cô con gái.
19 giờ 30 phút, một chiếc xích lô lặng lẽ trờ đến trước ngõ nhà Đông. Người chủ xe lắc một chiếc chuông nhỏ gọi khách. Đông đỡ ông Tự ra xe, cô em gái xách một chiếc túi du lịch nhỏ màu nâu ra theo và trao cho cha trước khi xe chuyển bánh. Huy Đông thong thả dạp xe theo sau chiếc xe chở ông Tự, họ đi dọc đương Trần Hưng Đạo qua của chợ Đông ba, đầu cầu Trường tiền, qua trứơc cửa Thượng tứ, rồi dầu cầu Phú xuân bắt vào đường Thống nhất chay giữa bến Thương bac và Phu văn lâu để rồi rẽ vào đương Kim long chạy cặp bờ sông Hương. Đến gần chùa Thiên mụ họ rẽ vào một ngõ hẹp bao bọc bằng những tán cây vườn, thơm thơm mùi hoa dạ hương. Huy Đông đỡ cha xuống khi xe dừng ngay trước thêm một ngôi nhà cổ lợp ngói âm dương, trông to lớn uy nghi. Ông Kim chạy ra cùng một người con gái:
-         Chào anh Tự, chào cháu Đông! Đây là con gái tôi – ông quay sang con mình- con giúp anh đưa bác vào nhà.
-         Dạ con chào bác ! Em chào anh ! anh Đông để em phụ một tay! Ấy cẩn thận ! bậc thềm của nhà cao lắm đó !
Đi hết gian chính của nhà trước, họ dọc theo hành lang của một ngôi nhà ngang  dài nối vào một căn nhà nhỏ cổ trông như một ngôi chùa ẩn trong vườn cây trái. Khác với hai nhà ngoài có đèn điên sang choang, trong này chỉ có ánh đèn toả xuống từ những dãy điên thờ  sơn son thếp vàng nối tiếp nhau, tạo nên không khí nghiêm trang bí ẩn. Vừa ngồi yên trong chiếc tràng kỉ có lót nệm gấm, ông Tự bảo con trai:
-         Con theo em ra nhà ngoài ngồi chờ một lát. Khi nào Ba gọi, thì con vào !
Cô gái dẫn Đông quay trở ra và bảo:
-         Anh ngồi chơi ! Cô quay sang rót nước chè xanh hãm trong một chiếc ấm cổ ánh men xanh vào một chiếc tách nhỏ, nước chè còn nóng, phảng phất mùi hoa sen. Nhìn cô, Đông không thể ngờ được đây là một cô gái Việt kiều sống lâu năm trên đất Paris  xa xôi. Quần âu hơi loe ống, áo sơ mi cổ cao với ve áo to, thân chẽn, vạt bầu, đúng mốt của các cô gái Huế. Tóc thề ngang lưng ôm lấy một khuôn mặt trái xoan đoan trang, một chiếc răng khểnh làm cho nụ cười duyên mà tinh nghịch.
-         Em ở Paris về thấy Việt nam như thế nào ?
 Đông bật lên một câu hỏi, mà ngay lập tức anh thấy ngượng vì nó ngây ngô quá, liền chữa thẹn:
-         Ý anh muốn nói là anh rất ngạc nhiên là trông em không khác gì cô gái Huế chưa bao giờ xa Huế, chẳng giống một cô gái sống từ tấm bé ở thủ đô văn minh Paris.
-         Chẳng có gì đặc biệt đâu anh, bên đó nhà em vẫn giữ nề nếp gia phong như ở Việt nam vậy. Ba em nnghiêm lắm, trong nhà mà nói tiếng Tây là bị mắng ngay. Miết rồi cũng chẳng thấy khó chịu mà chỉ thấy mình yêu Việt nam hơn.
Đông bạo dạn hơn:
-         Anh tên là Lê Huy Đông,
-         Dạ! Em được ba em cho biết về anh rồi. Còn em là Tôn nữ Hương Giang.
Bỗng từ nhà sau có một người phụ nữ trạc 40 tuổi đi ra nói một câu gì đó với Hương Giang và cô quay sang Huy Đông:
-         Bác gọi anh vào nhà trong.
-         Sao Hưong Giang không vào cùng, vì ba của em cũng ở trong đó mà ?
Cô gái nói nhỏ:
-         Em phải ở ngoài này trông chừng người lạ. Anh vào đi kẻo mọi người chờ !
Huy Đông liền đứng lên đi theo người phụ nữ. Khi đên trước cánh cửa chính của căn nhà thờ, người đàn bà dừng lại gõ 3 cái vào cánh cửa gỗ dày, đặng quay sang Đông:
-         Mọi người đang chờ cậu trong đó, cậu vào đi.
Không chờ Huy Đông  đáp lại, bà ta lặng lẽ đi vào bóng tối của nhũng tán cây trong vườn, rồi ngồi xuống lặng lẽ làm một việc gì đó, hình như là cọ rửa một chiếc lọ hoa bằng sứ thì phải. Huy Đông biết ngay rằng, cũng như Hương Giang, người đàn bà này là những người cảnh giới báo động từ xa bằng cách làm ra một tín hiệu nào đó khi có người lạ đến gần cho những người đang ngồi họp trong căn nhà thờ biết để đối phó trước.
 Hít một hơi thở sâu, Huy Đông hồi hộp dẩy của bước vào, sau khi khép lại cánh cửa lại như cũ rồi mới quay mặt vào trong, anh hơi giật mình vì ngạc nhiên. Có 5 người ngồi quanh một chiếc bàn bằng gồ cổ được cham trỗ cầu kì, mặt ban khảm trai hình rồng phượng  bay lượn và những hoa văn đối xứng xuyên tâm. Một bà lão ngồi chính giữa ngay dưới điện thờ chính đầu đội khăn đóng màu vàng, khoác một chiếc áo rộng dài màu huyết dụ dỏ thẫm làm nổi rõ hình một con Phương hoàng thêu bằng chỉ trang kim màu vàng, Đông biết được Người đàn bà này là một bà Phi hay một công chúa của triều đình nhà Nguyễn. Ngồi hai bên bà lão đối diện nhau là hai ông già khoác áo gấm màu đen thêu chữ lộc màu đỏ kiểu áo lễ, tuy vậy đầu họ đội khăn đóng kiểu cổ trong  cuộc sống bình nhật chứ không đọi mũ cánh chuồn dành cho quan lại trong các buổi chàu Vua ở điện Thái hoà hoac khi làm việc ở công đường. Kế đến là ông Kim và ba anh đều mặc complet màu đen trang trọng ngồi bên phải và trái của anh. Huy Đông khoanh tay, cúi đầu:
-         Cháu chào Bà ! cháu chào hai ông ! con chào chú ! con chào Ba, Sau khi mọi người gất đầu chà đáp trả, chú Kim chỉ vào chiếc ghế còn lại đặt đối diên hướng với bà lão:
-          Cháu  đến đây! Đoạn ông hắng giọng:
-         Thưa Mệ,  Thưa hai chú ! đây là cháu Lê Huy Đông con anh Lê Huy Tự. còn đây Chú giới thiệu với cháu bà nội của chú vốn là một công chúa con Vua, còn hai ông đây là hai vị quan trong triều thuộc Bộ Hình cũ.
Bà lão nói, giọng nhẹ nhang thân thiện:
-         Ta cho cháu ngồi xuông! Ta đã được cha cháu nói nhiều về cháu và ta cũng có thiện cảm với cháu. Vây cháu nghe đây, sở dĩ chúng ta có mặt cùng nhau hôm nay tại đây là vì một việc quan trọng chúng ta muốn nhờ cậy vào cháu, hai ông đây cũng đồng ý như vậy, phải không hai ông ?
-         Thưa Mệ đúng vậy ạ ! Cả hai ông già đáp lời một cách cung kính.
-         Ta muốn nói với cháu rằng công việc mà chúng ta truyên lại cho cháu la công viêc mà khi còn triều đinh, thì là đó là nhiệm vụ quốc gia đại sự, nhưng giờ đây không còn triều đinh nữa, thì chỉ còn là việc nhân nghĩa cần làm mà thôi, nên chúng ta chỉ nhờ cậy cháu làm tiếp tâm nguyện của cha ông ta.
Thứ hai, thời đại đã đổi thay.Tuy chúng ta là là con cháu nhà Vua, nhưng chúng ta không ảo tưởng khôi phục vương triều, việc đó là việc chính trị nguy hiểm,  chúng ta không có ý tưởng đi ngược lai Lịch sử và chúng ta chỉ muốn làm công dân một nước Viêt nam đọc lâp, tự do, dân chủ và giàu mạnh. Làm tốt trách nhiêm của một công dân là trách nhiệm  và nghĩa vụ của  ta và những người trong hoàng tộc. Tất cả những gì của thời đại xa xưa giao cho chúng ta, chúng ta tự mình ý thức được là không còn giá trị, duy công việc mà chúng ta nhờ cậy cháu, mà  sau đây cháu trai ta sẽ nói rõ cho cháu, liên quan đến linh hồn của dân tộc Việt, liên quan đến mong ước Việt nam phát triển lâu dài dù ở dưới chế độ chính trị nào cũng vây, nên ta thấy khi thực hiên được, ta vẫn được chút an ủi khi đến lúc nhắm mắt xuôi tay về với tổ tiên. Chúng ta truyền nó lại cho cháu.
Ba là, ông cha ta là nhưng ông vua của Vương triều cuối cùng ở Việt nam và cũng là Vương triều bị  kết tội  nhiều nhất theo sách vở tuyên truyền hiện nay, như  vậy là không công bằng, Lịch sử của vương triều nhà ta có nhiều sai lầm thậm chí tội lỗi đối với nước Việt và đân tộc Việt, nhưng làm vua là một công việc rất khó khăn, ông cha ta cũng đã cố gắng hết mình nhưng không tránh được. Lịch sử cũng phải khách quan nhìn nhân rằng,  trong suốt thăng trầm của Triều Nguyễn ông cha ta cũng đã để lại nhiều thành quả tốt cho nước Việt. Cháu là một nhà nghiên cứu lịch sử , ta tha thiết  yêu cầu cháu đến một lúc nào đó đưa ra bằng chứng và lí luận dòng họ của chúng ta không thối nát, hung tàn và đần độn, dù có sai lầm nhưng dòng họ của chúng ta vẫn là dòng họ đóng góp nhiều nhất cho sự  phát triển của dân tộc Việt trong suốt mấy trăm năm qua.Chúng Ta nhờ cậy cháu.
Bốn là, ta ý thức đươc rằng việc liên quan đến một vương triều phong kiến đang bị kết tội phản động cháu và người thân của cháu rất dễ bị qui chụp như một kẻ  thù phản dân tộc. Đó cho thấy nó nguy hiểm đến nhường nào. Vậy nên cháu  phải hết sức giữ gìn bí mật, sáng suốt và thận trọng trong cuộc sống nhiều tai vách mạch rừng này, để thực thi công việc mà chúng ta nhờ cậy. Chúng ta tin tưởng cháu.
Năm là, làm gì cũng phải có tiền, ta giao cho cháu công việc lâu dài gian khổ và tốn kém, nên ta yêu cầu những người ngồi đây có trách nhiệm cung cấp đủ tiền bạc cho cháu, khi cháu cần nó cho công việc ta giao cho.
 Ý của ta là như vậy, giờ ta nhường lời cho ông Lê Huy Tự, mời ông !
Ông Tự dạ một tiếng rồi gắng ngồi thẳng lên:
-         Thưa Mệ, thưa hai ông và anh Kim, nhiêm vụ mà các ông Vua giao cho dòng họ Lê của chúng tôi truyền từ nhiều đời nay đến cho tôi là một nhiêm vụ truyền từ con tim này đến con tim khác của một người con dân Viêt chứ không chỉ lá nguyên ước riêng của Hoàng tộc. Cho đến nay dòng tộc chúng tôi không làm được là một tội lớn. Bản thân tôi thân tàn ma dại như thế này cũng vì thất bại của mình, do không chon đúng thời điểm để tiến hành, mặt khác do thiếu trình độ tri thức cần thiết, thiếu phương pháp tổ chức thực hiện. Nhận thấy trách nhiệm vẫn còn đó nhưng ,- Ông quay sang  con trai – Ba biết bệnh tật của Ba càng ngày càng nặng, vài ngày nữa có thể chỉ nằm được một chỗ, vậy nên ba bàn với Bà hoàng đây và với hai ông tổ chức cưộc gặp mặt cuối cùng này, cha con chú Kim phải ngưng công việc ở bên Pháp vội bay về đây cũng vì công chuyện này. Vây con có thuận tình tiếp nhận lời hứa của tổ tiên dòng họ ta trước vong linh các vị Vua Nguyễn, trước vong linh của dân tộc Viêt hay không là tuỳ con. Lẽ ra ba và chú Kim cần phải giải thích trước cho con, nhưng Ba và chú ấy cần một con người chỉ cần niềm tin vào Ba và tin vào sự nhận thức nhạy cảm của chính bản thân mình mà quyết định chấp nhận nhiệm vụ hay không , thì  đó mới là con người trung hiếu. Con hiểu ý của Ba và chấp nhận cách làm của ba chứ ?
-         Vâng con hiểu và tin tưởng Ba, một người cha yêu thương con hết mình, hy sinh tất cả vì chúng con. Con không có ý trách Ba và chú nữa.
-          Thế thì tốt, tất cả mọi người quanh bàn đều vui hẳn lên. Ông lão ngồi bên trái của Bà Hoàng đứng dậy đi đến bên Điện thờ, đưa hai tay  một cách trang trọng đỡ lấy một vât gì đò phủ dưới một tấm vải đỏ rồi mang theo ra đến đặt nhẹ nhang  trên mặt bàn trước mặt của Bà hoàng. Ông kia đã kịp bày biện ra một chiếc khay có 6 cái chén nhỏ và một binh rượu bằng sứ trắng có hoa văn rồng phượng xanh ngọc, các mép chén đều viền vàng. Chờ mọi người yên vị, Bà Hòang nói:
-         Để cháu Huy Đông tiếp nhận tự nguyện nhiêm vụ được truyền lại với sức mạnh và ý chí của cả dòng họ và tổ tiên ta phù hộ cho cháu, chúng ta muốn cháu nhận lấy những bảo vật này, giờ đây chúng không còn giá trị luật pháp nũa. Nhưng giá trị tâm linh và đạo đức vẫn mãi mãi còn nguyên.
Bà hoàng mở tấm vải đỏ, làm lộ ra một chiếc hộp gỗ quí màu vecni sẫm có khảm trai cảnh 4 mùa xuân, hạ, thu, đông ở những mắt đứng, trên nắp là cảnh hai con rồng vờn quanh  mặt trời ở giữa. Đông thầm nghĩ:
-         Nó đã ở bên cạnh mình suốt từ tấm bé mà mà mình lại không ngờ rằng có một chiếc hộp như vậy trên đời này.
-         Cháu Đông ! cháu lại gần đây.
-          Dạ !
Đông đứng dậy đi vòng sau lưng mọi người đến đứng cạnh Bà hoàng. Bà lão nhấc ra từ trong lòng chiếc hộp lót nhung đỏ miếng ngà voi bề ngang chừng 3 ngón tay , dài chừng gang tay trên cả hai mặt đều có chạm trỗ công phu Luỡng long chầu nhật bao quanh những hàng chữ Hán.
-         Đây là lệnh bài của Vua cấp cho tổ tiên cháu, xác định trách nhiêm và quyền lực của người cầm lệnh bài này là to lớn, chỉ trực tiếp bẩm tấu với Vua và có quyền chém đầu kẻ nào cản công vụ của họ rồi mới giải thích với vua sau. Và đây là chiếu chỉ của Hoàng Thượng cho phép người có lệnh bài này có quyền trưng dụng tài vật phục vụ nhiệm vụ được giao, các quan lại chức sắc ở các địa phương hết sức giúp đỡ người thừa hanh công vụ.-  Bà Hoàng nói về một tờ giấy đã ngă vàng do năm tháng - .Còn đây là cuốn sổ ghi vắn tắt nhiêm vụ của dòng họ cháu, trong đó có chép lại những gì mà những bậc tiền bối thu nhận được. Nhũng bảo vật này, hôm nay chúng ta giao cho cháu.
Huy Đông đưa hai tay đở lấy chiếc hộp quí với một tình cảm khó tả. Anh hình dung ra cách đây gần nửa thế kỉ ba của anh cũng đã đưa tay ra nhận trách nhiệm và ông đã nhận  lấy nỗi âu lo thiệt thòi, nguy hiểm. Ông dã đón lấy một cách tự nguyện như là một sự an bài tất nhiên của số phận. Hôm nay số phận đó lại chọn  anh, vì anh là con trai của dòng họ Lê, dòng họ của một vị tướng tâm phúc  theo chúa Ngyễn vào Nam mở mang bờ cõi đất nước từ nhưng thế kỉ xa xua.
Một ông già đứng dây rót rượu ra các chén quí, trao cho bà Hoàng một chén, bà lão đỡ lấy nâng ngang trước mặt:
-         Cháu Huy Đông ! Để chứng tích sự việc hôm nay, Ta ban cho cháu một chén rượu quí cất rất lâu năm trong cung Vua, vốn chỉ dành cho Hoàng thượng dùng khi Ngự thiện. Mời mọi người cùng nâng li chúc mừng cháu.
 Tất cả cùng nâng chén rượu nhỏ của mình bằng hai tay ngang tâm mắt chờ Bà hoàng uống trước rồi mới cạn li. Một ngọn lửa cháy bỏng nhưng ngọt ngào thơm nồng đót cháy cổ họng Đông, khắc vào tâm trí anh như một vết sẹo sẽ có trong anh suốt đời kể từ giây phút kì lạ này.
-         Tôn Thất Kim, ngay ngày mai con hãy giải thích cho cháu Đông tất cả những gì mà cháu cần phải biết, hãy dạy cho cháu những đức tính cần phải có. Con và con gái con, Công Tằng Tôn Nữ Hương Giang sẽ chịu trách nhiệm cùng với cháu Đông tiến hành công việc.
-         Dạ thưa Mệ, con đã có kế hoạch chi tiết rồi. Nhưng con phải thưa với mệ một sự thật rằng, với thể chế chính trị hiện nay ở Viêt nam, cháu Đông và chúng con sẽ gặp nguy hiểm cho sự nghiệp và cuộc sống của mình, thậm chí sẽ bị tù đày nếu bị chụp mũ phản giai cấp cầm quyền. Con và anh Tự thỉnh cầu Mệ cho cháu Đông học hành thành tài đã, rồi mới hành đông. Với tình hình thế giới hiên nay, cộng với phân tích tình hình trong nước, con cho rằng chẳng còn bao lâu nữa sẽ có nhiều biến đông có lợi cho chúng con.
-         Ta biết điều đó, vả lại đây không phải là một nhiệm vụ mà là một nguyện ước truyền đời nên đâu có cần phải vội vã. Ta cũng hy vọng khi ta còn sống ta được thấy lịch sử chuyển dần cách nhìn  vốn không công bằng đối với Hoàng tộc của ta. Thôi cuộc găp hôm nay kết thúc, không nên ngồi lâu kẻo công an khu vực biết được thì rất phiền phức. Mọi người nhớ ra về lần lượt xa nhau ra và nhớ nói là đã đến nhà tôi để chơi bài lấy vui thôi đấy nhé.
Hai cha con Huy Đông ra đến nhà trước thì đã thấy chiếc Cyclo ban nãy đã chờ sẵn ở đấy, người chủ của nó vẫn đội chiếc mũ rông vành bằng vải che khuất nửa khuôn mặt lặng lẽ giúp anh đỡ ông Tự lên xe. Trước khi chia tay, ông Kim cầm lấy chiếc túi xách đưng chiếc hộp gia truyền từ tay con gái đưa cho ông Tự dặt bên cạnh mình vừa nói nhẹ với Huy Đông:
-         Ngày mai tám giờ sáng cháu sang Bến ngự chờ chú ở chỗ bến lên xuống thuyền. Chú cháu minh sẽ có nhiều viêc phải làm với nhau trước khi cháu trở lại Hà nội.
-         Dạ cháu nghe lời chú ! Hẹn chú sáng mai gặp lại.
Hai cha con trên đương về không trò chuyên với nhau một lời nào. Nhìn vẻ trầm ngâm của cha, Huy Đông đoán ngay ra nguyên nhân. Ông rất lo lắng cho anh, sợ anh lai chịu số phân thiệt thòi như ông đã có:
-         Ba cứ an tâm, con lớn rồi con sẽ tự lo lắng cho mình, thời cuộc bây giò khác thời của ba nhiều lắm rồi.
Huy Đông an ủi cha trong khi dìu ông vào nhà với sự trợ giúp của hai cô em gái. Đêm mùa hè nóng ngột ngạt, anh ngồi trước hiên nhà nhìn  lên bầu trời đầy sao, không gian càng về khuya càng đăc quánh lại trong tĩnh mịch, cô quọanh và rả rích tiếng côn trùng. Chốc chốc tiếng chuông chùa Thiên mụ ngân nga điểm canh phảng phất xa xôi từ phía Kim long vọng lại. Với một đêm như thế này, Huy Đông biết mình khó có thể ngủ được.
                                                  Chương 4
               Đất nước, Dân tộc, Vương Triều trong ván cờ Thiên mệnh
8 giờ sáng, chợ Bến ngự đã vãn bớt khách vì người mua bán cùng tranh thủ khi trời chưa nóng bức đều đi mua thực phẩm từ sáng sớm. So với chợ Đông ba thì chợ Bế ngự chỉ là một chợ xép, chủ yếu là bán thực phẩm rau trái tươi. Càng đi chợ sớm càng mua được những thứ còn tươi nguyên được mang về từ các chợ bán sĩ chỉ họp trong đêm.
 Cầu Bến Ngự bắc qua dòng sông An cựu tấp nập xe cộ vì theo đường này ngay trên đầu dốc trước mặt là chùa Từ Đàm, một  Quốc Tự nổi tiếng của Việt nam, đi tiếp người ta có thể đi đến Nam Giao, nơi có đàn tế Trời Nam giao và Đài tưởng niệm các Liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc, đi xa hơn nữa là các Di tìch Lăng tẩm của các đời Vua Chúa họ Nguyền nổi tiếng là thắng cảnh  đươc rất nhiều du khách viếng thăm hàng ngày.
Một chiếc thuyền bằng gỗ, có mui che cao như một căn nhà nhỏ với các cửa sổ treo rèm trắng luớt tới bến sông duới chân cầu. Một người đàn ông ăn vân kiểu thuyền chài nhảy xuống kéo sợi dây to chằng chiếc thuyền vào chiếc cọc sắt trên mép bậc bê tông, xong việc anh ta vội vã đi lên chợ, dạo một vòng quanh quầy hoa quả và mua một túi các loại khác nhau, bỗng  người thuyền chài đó tiến đến bên Huy Đông:
-         Chào Cậu! Chú Kim đang chờ cậu dưới thuyền, mời cậu theo tôi xuống.
-         Ồ vậy hả ? Huy Đông ngạc nhiên đi theo người thuyền chài, ông ta giữ chặt mạn thuyền cho anh bước lên. Với những bước đi hơi loạng choạng Huy Đông bước vào trong khoang nhà nổi, ông Kim đang ngồi bên một chiếc bàn nhỏ nói chuyện gì đó với con gái mình, cả hai cha con quay lại chào anh:
-         Chào cháu, ngồi xuống đây cháu ! Đây là chiếc thuyền của một người bà con, hôm nay ông ấy cho  chú cháu ta  một chuyến đò dọc để thưởng ngoạn phong cảnh Huế dọc hai bờ sông Hương vừa bàn công việc.
-         Dạ ! chú chu đáo quá. Tiếng là người Huế nhưng cháu chưa bao giờ được đi thuyền dọc sông Hương, thật kì cục phải không chú ?
Ông Kim xuề xoà:
-         Chắc là mải lo học hành  phấn đấu quá chứ gì, thôi thì lần này dành hẳn 1 ngày đi chơi với hai ba con chú, được không ?
-         Cháu vâng lời chú !
Hương Giang rót nước mời Huy Đông. Hôm nay cô trông khoẻ mạnh, tươi tắn hơn trong bộ đồ đúng mốt nước ngoài: áo phông trắng có hình một bông hồng vẽ theo lối cách điệu làm nền cho một hình hai bàn tay nam nữ nắm chặt nhau, quần bò Levis vừa vặn thân hình cân đối. Ở Viêt nam trong  những năm khó khăn này, em gái Đông không thể nào có đủ tiền để sắm cho mình một bộ quang áo hàng hiệu nổi tiếng như vậy, khi chỉ mong chờ vào đồng lương viên chức nhà nước.
 Khi thuyền đã ra khỏi sông An cựu, bỏ qua cầu Bạch hổ hướng về thượng nguồn sông Hương, ông Kim bắt đầu nói chuyên với cả hai anh em:
-         Cháu Đông là người giảng dạy và nghiên cứu lịch sử, lại chuyên vào dân tộc học Việt nam nên chú chỉ sơ qua vài nét về lịch sử ra đời của tổ tiên chúa Nguyễn và nhà Nguyễn, triều  đình  phong kiến  cuối  cùng   Viêt nam có cố đô là thành phố Huế hiện nay.
Theo phả hệ họ Nguyễn còn giữ được đến nay, các chúa Nguyễn là dong dõi họ Nguyễn ổ Gia miêu, phủ Tống sơn, tỉnh Thanh hoá va là con cháu của Định Quốc công tên là Nguyễn Bặc thời nhà Đinh. Năm 1452, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê và lập ra nhà Mạc. Một hậu duệ của Nguyễn Bặc là Nguyễn Kim (1468 – 1545) là một tướng giỏi của nhà Hậu Lê, nhờ có công lớn giúp Vua Lê chống lại nhà Mạc nên được phong chức Thái Sư Hưng Quốc Công thuộc bậc công thần cứu quốc. Ông có 3 người con. Người con gái lớn tên là Ngọc Bảo lấy Trịnh Kiểm, người mà sau này trở thành Chúa Trịnh Kiểm trong thời kì nhà Lê suy tàn và nhà Trịnh lộng hành lập nên Chúa Trịnh nắm hết quyền hành. Hai người con trai của Thái Sư Hưng Quốc công Nguyễn Kim cũng theo nghiệp cha trở thành 2 tướng giởi và đều được phong chức Quận công.Năm 1558, khi Trịnh Kiểm đã nắm quyền hành và trở thành chúa Trịnh, hắn nhận thấy mối nguy từ  những tướng giỏi phù Lê nên tìm cách trừ khử, Quận công Nguyễn Uông là người con lớn của Nguyễn Kim và là em vợ của Trịnh Kiểm bị hắn tạo cớ bắt giữ rồi xử tử. Người em là Quận công Nguyễn Hoàng khi này đã được vua Lê phong tước Thái Uý Đoan Quốc Công,  hốt hoảng tìm cách thoát thân, phân vân chưa biết làm thế nào liền bí mật thân xuống quê của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, lúc này đã từ quan về quê dạy học, hỏi ý kiến chỉ dạy. Khi tiếp Nguyễn Hoàng, Trang Trình chỉ nói đúng một câu:
  Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân“
rồi phất tay áo đi vào mà không thêm lời nào nữa.
      Hiểu được thâm ý của câu nói, Nguyễn Hoàng vào cung vua Lê xin vào trấn thủ ở đất Thuận hoá tức là khu vực từ Quảng trị đến Thừa Thiên - Huế ngày nay. Thủ phủ ban đầu là xã Ái tử, huyện Đăng xương ( nay thuộc huyện Triệu phong) tỉnh Quảng trị. Mục đích của ông lúc đó chỉ để tránh xa Trịnh Kiểm, người anh rể có thể bất cứ lúc nào cũng ra tay giết hại ông .
  Ở vùng đất phía nam xa xôi sau đèo Ngang, nơi dãy Trường sơn ăn lấn ra tân bờ biển, tiếp dưới chân đèo là dòng sông Gianh rộng lớn chảy xiết, lúc đầu Nguyễn Hoàng vừa lo xây dưng Thuận hoá để dung thân, vừa lo chống  tàn  quân  nhà Mạc đang quấy nhiễu khắp nơi, nhưng ông vẫn một lòng giữ nghĩa khí phò Lê nên hay thường ra  Thăng long chầu Vua Lê, lúc này không còn thực quyền bên cạnh chúa Trịnh. Năm 1593, mặc dù rất sợ bị sát hại, nhưng vì trung nghĩa, Nguyễn Hoàng vẫn đưa quân ra Bắc giúp Trịnh Tùng, con của Trịnh Kiểm lúc này đã kế vị cha, đánh dẹp quân binh họ Mạc trong 8 năm trời, rồi bị họ Trịnh lưu giữ lại Thăng long do lo sợ sự cát cứ và thế lực mạnh dần lên ở Thuận hoá của ông. Năm 1599, nhân có vụ quân binh nổi loạn chống họ Trịnh, ông mới có cớ đưa quân sĩ trở về Thuận hoá. Từ đó Nguyễn Hoàng ý thức đựoc vận mệnh thật sự của đất nước nên ông bắt đầu lo phát triển cơ sở phòng thủ, sẵn sàng chống trả quân chúa Trịnh vào đánh phá sau này. Ông cho xây dựng thành nhỏ ở phía đông Ái Tử và chuyển sang ở đấy gọi là Dinh Cát.
Một buổi chiều mùa hè năm Tân sửu (1601) Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng dẫn theo một đám binh sĩ tâm phúc trên đừong đi du ngoạn các nơi núi non sông biển thuộc phần đất mà ông trấn giữ. Đến bên bờ sông Hưong, Ngài cùng đoàn người ngựa men theo bờ sông đi về hướng hạ nguồn đến khúc sông trở nên phình rộng có một gò cao nhô ra phía nước, sau khi giây lát dừng ngựa để chiêm ngưỡng cảnh phong thuỷ hữu tình, Nguyễn Hoang thúc ngựa đi tiếp vì muốn đến khu hạ lưu bằng phẳng đóng trại nghỉ qua đêm, nhưng lạ lùng thay con ngựa trung thành dễ bảo của ông không chịu đi tiếp, thúc thế nào nó cũng giẫm châm xoay vòng tại chỗ. Ông gọi người lính hộ vệ:
-         Cả Sầm, ngươi giúp ta xem con tuấn mã của ta vướng gì ở chân mà không chịu nghe ta sai khiến.
Người lính già chạy lại bên chủ tướng xêm xét sờ nắn cả 4 chân ngựa rồi thưa:
-         Thưa Quốc công, không có gì vướng chân ngựa cả.
Thế nhưng mặc dù cả hai chủ tớ vuốt ve giỗ danh rồi doạ nạt con tuấn mã vốn rất ngoan ngoãn vẫn  lì lợm không chịu chuyển bước, trong khi ánh mặt trời đang nhạt đần trên dãy núi phía tây. Nguyễn Hoàng đành hạ lệnh:
-         Thôi mọi việc đành tạm gác lại, ngày mai suy xét. Bây giờ chúng ta sẽ hạ trại tạm nghỉ qua đêm ở đây.
-         Sau khi hoàn tất lều trại và dùng bữa tối, Quốc công Nguyễn Hoàng ra ngồi ở bờ sông hóng mát trên chiếc ghế phủ gấm có thể nửa nằm nửa ngồi bên một chiếc bàn nhỏ đặt một chung rượu và một chiếc chén hạt mít bé xíu. Ông ngắm nhìn cảnh vật bên bờ đói diên giờ chỉ mờ mờ đen, đây đó thấp thoáng ánh nến le lói sau những rặng cây, bên đó vẵn là một vùng xa lạ giói hạn vùng đất Thuân hoá của ông. Tình thế của Ông hiện tại thầt trớ trêu, tuy đã có phòng bị nhưng không biết lúc nào ông mới đủ manh để nắm chắc phấn thắng nếu chúa Trinh quyết đưa quân vào tiêu diệt ông. Vùng đất nhỏ hẹp nghèo đói, thưa thớt dân cư không cho ông được khả năng xây dưng một đội quân đông đúc hùng hậu được, họ tộc Nguyễn của ông đã phải chạy từ đất tổ Thanh hoá vào đây liệu có được yên thân không ? Rồi cả trăm họ theo ông sống chết bâý lâu nay biết có được bảo toàn không ? Niềm uẩn khúc trào dâng, Quốc công sai lính hầu lấy thêm rượu. Cả Sầm kính cẩn đặt bình rượu mới lên bàn, đứng thẳng người lại rồi cúi đầu nói với chủ tướng:
-         Bẩn thưa Quốc công, trời về đêm ở bên bờ sông lạ này không tốt cho sức khoẻ của Quốc công. Xin Ngài không nên dùng thêm rươu nữa kẻo cẩm lạnh đột ngột thì nguy.
-          Ngươi lo lắng cho ta, ta cám ơn. Nhưng không hiểu vì sao hôm nay ta thấy cần phải say một tí mới được. Thôi được, nhà ngưoi lấy ra cho ta một tấm chăn đắp, khi cần ta sẽ dùng.
Cả Sầm làm theo lời Quốc công, rồi lui lại đứng xa xa canh chừng. Với những người tâm phúc như vậy, Quốc công hoàn toàn yên tâm giưa nơi xa lạ này. Một chén rượu nữa làm cho Nguyễn Hoàng chập chờn, chập chờn… Bỗng ông ngạc nhiên khi thấy xuúat hiên một bà lào chống gậy tiến đến bên  Cả Sầm nói điều gì đó  vớin gười lính già rồi thong thả một cách khó nhọc vì một chân bên phải hình như bị liêt, đi về hứong ông ngồi.
-         Cả Sầm làm sao vây ? Sao hôm nay hắn ta lại pham vào quân lệnh như vậy, hắn dã để người lạ đến gặp ta mà không đến trước hỏi ta có đông ý hay không, mặc dù là một bà lão yếu đưối, ai đảm bảo là không phải là một người xấu cải trang ?
Quốc công muốn đứng lên thủ thế, nhưng không tài nào cử động đựoc, ông hốt hoảng trách mình:
-         Tai hại quá, ta đã say quá mất rồi !
Trong lúc đó, bà lão đã đến bên cạnh Nguyễn Hoàng, định thần nhìn kĩ hơn ông thấy rõ đó là một cụ già tóc trắng quấn bằng một chiếc khăn nhung đỏ, mịnh mặc áo đỏ quần màu lục tay cầm một chiếc gậy gỗ chạm đầu rồng uốn cong theo hình chữ „liễu“  lại có chấu ngang chỗ tay cầm trông rất lạ mắt, hơn nữa chiếc gây lại quá ngắn một cách bất thường so với một chiếc gây bình thương. Bất chợt như có lực đẩy sai khiến, Nguyễn Hoàng đứng bật dậy được và cung kính chào:
-         Chào cụ, cụ là ai mà trong đêm tối như thế này lại lặn lội đến gặp tôi, chắc hẳn cụ muốn tôi giúp việc gì phải không ?
-         Chào Quốc Công, lão có lời xin lổi đã tự tiện đường đột đến gặp ngài. Lão tên là Thiên, nhà ở cạnh đây thôi. Lão nghe danh của Quốc công đã lâu và cũng mong được có ngày gặp mặt, hôm nay run rủi ngài đi ngang tệ xá, lão mạo muội giữ chân đăng có đôi điều nhờ vả. Xin ngài thứ lỗi !
Nghe vậy Nguyễn Hoàng vội đáp lễ:
-         Bà lão yên tâm, Nguyễn Hoàng tôi chỉ có chút tài mọn, chí lớn chưa thành, chưa có công danh mà lão đã bận tâm đến, vậy có điều gì bà Lão xin nói ra, sức tài tôi đến đâu tôi xin gắng, miễn là việc đó không lầm tổn hại đến bá tánh. À mà sao chân của bà lão lai bị tổn thương làm vậy ?
-         Một thời gian trước đây, trong một lần nằm nghỉ lão bị một kẻ ngoại bang dùng kế đả thương ngang hông lão, làm tổn hại huyết mach liệt cả chân phải của lão. Lão giáu chưa nói với ai, nhưng ngài đã biết, nếu thật lòng giúp lão chắc ngài sẽ tự biết phải làm gì. Đó là chuyên dễ.
Bà lão gượng đứng thẳng trên chân trái, tay phải đưa chiếc gây lạ mắt ra phía  Nguyễn Hoàng:
-         Lão có chiếc gậy quí này, nhưng ngặt một nỗi là nó không tron chiều dài như nó cần phải có, nó không tron vẹn khi lão nhận đựoc. Nhờ Quốc công kéo nó dài ra như cũ, dược vây lão sẽ trả công Quốc công bằng việc nhận nuôi con cháu ngài như con đẻ.
-         Thưa cụ ! Thế tôi làm cách nào và ở đâu mới tìm được khúc còn thiếu của cây gây ?
-         Bà lão không nói, chỉ tay về hướng bờ sông bên kia. Nguyễn Hoàng xoay người nhìn theo, khi quay lại chẳng thấy Bà lão đâu nữa, ông cất bước định chạy đi tìm, bỗng bị ngã nhào và giật mình choàng tỉnh.
-         Thì ra là một giấc mơ - Ông rùng mình hoảng hốt, vội gọi;
-         Cả Sầm ! Cả Sầm ! ngươi lại đây mau !
Cả Sầm hốt hoảng chạy đến bên chủ tướng:
-         Quóc công gọi con, co gì xảy ra vậy?
-         Nhà ngươi có thấy một bà cụ vừa ở đây ra không?
-         Bẩm Quốc công, con không thấy. Con không ngủ quên hoạc ngó đi chỗ khác, Con chắc chắn là không để một ai đến gần Quốc công trong tời gian qua.
Nguyễn Hoàng lẩm bẩm:
-         Đúng là một giấc mơ kì lạ.
Suốt đêm đó Nguyễn Hoang hầu như không ngủ đươc, lòng nhiều phân vân ông chờ trời sáng và mong càng nhanh càng tốt.
 Vừa sáng tỏ mặt người, Quốc công Nguyễn Hoàng đã nhẹ nhàng ra khỏi lều của mình nói với hai người lính gác:
-         Hai ngươi theo ta đi dạo một vong quanh đây, đừng làm kinh đông mọi người, cứ để cho họ ngủ đến khi nào ta về hẵng gọi dậy.
Ba thầy trò lặng lẽ rời trại. Chân trời hơi hửng lên một tí ráng vàng ở phía đông, mặt nước sông Hương thoảng gió nhẹ lăn tăn sóng, trên mặt sông phía thượng nguồn phảng phất hơi nước như làn khói mỏng nối liền vối những đám mây nhẹ như nhưng tấm voan quàng hờ hững trên những dãy núi xanh thẫm.
Quan sát một vòng, Nguyễn Hoàng thấy dây là một chốn phong thuỷ cực đẹp, giữa chón đồng bằng đọt ngột nhô cao một gò đồi cao dáng tựa như chiếc đầu rồng đang ngoái nhìn về phía núi mẹ là dãy Trường sơn hùng vĩ in hình trên mặt nước trong xanh của Hương Giang.
 Trứơc cảnh trí tuyệt vời, Nguyễn Hoàng lấy làm thích thú bèn leo lên trên đồi cao ngắm nhìn bốn phía xung quanh, chợt thấy một đoạn hào cắt ngang dưới chân núi liền cử một người lính đi ra tìm một người trong khu xóm nhỏ bên cạnh đến đẻ hỏi ngon nguồn. Một chốc sau anh lính quay lại, theo sau là một ông lão tầm 70 tuổi, tiến đến đến trước mặt Nguyễn Hoàng cụ già chắp tay cung kính:
-         Xin kính chào Quốc Công ! Quốc công có điều gì chỉ giáo mà cho vời lão già này đến ạ ?
Nguyễn Hoàng chắp tay đáp lễ:
-         Chào lão ! Ta muốn lão cho biết những gì liên quan đến vùng đất này !
-         Bẩm, nơi Ngài đang đứng là núi đất tên là Hà Khê địa thế rất quí, theo các vị tiền bối trong làng chúng tôi kể lại, thì vào đời nhà Đường bên Trung hoa có cử một Pháp tăng rất cao cường tên là Cao Biền sang nước Nam chúng ta để tìm cách diệt hạ tất cả những chỗ nào có vượng khí linh thiêng. Khi đến vùng này Cao Biền nhân thấy nùi này có khí thiêng tụ lại bèn cho đào hào ngăn cách phía sau núi để cắt long mạch khiến cho từ bấy đến nay khí thiêng không hội tụ được nữa.
Quốc công Nguyễn Hoàng chỉ vào một lùm cây cao rậm rạp phía giữa núi, nơi hôm qua vì bận rộn với con ngựa trở chứng nên ông không để ý thấy.
-          Vì sao lại có lùm cây như vậy ở giữa núi ?
-         Bẩm Quốc Công, nơi đó là nền cũ của một ngôi chùa xưa tên là chùa Thiên mỗ, theo truyền thuyết trước đây ngôi chùa đó rất linh thiêng, nhưng không hiểu vì sao chùa dần bị bỏ phế mà không làm cách nào để khôi phục được. Người ta bảo thi thoảng vẫn gặp một bà lão què mặc áo đỏ quần xanh xuất hiên thấp thoáng nơi đó, nên không ai đám đông vào khu đất đó, cây cối tự nhiên mọc cao thành như ngài thấy đó. Gần đây, có người bạo gan đến gần đó thì nhặt được lá rừng có dòng chữ đại ý rằng „Rồi đây sẽ có một Đức chân Chúa đến đây lập chùa thờ Phật cầu thỉnh linh khí trở về đẻ cầu phúc giúp dân, giúp nước tất không có gì phải lo nữa“ khi đọc xong dòng chữ mờ dần rồi biến mất. Từ đó dân chúng gọi núi này bằng tên Thiên mụ sơn.
Sau khi cho ông lão lui về, Quốc công Nguyễn Hoàng luôn mồm lẩm bẩm:
-         À ra thế ! À ra thế !
Hai tên lính theo hầu không hiểu Ngài nói vậy nghĩa là thế nào, trong khi đó phía trại lính tiếng lao xao vọng đến, phút chốc sau một toán người dẫn đầu là Cả Sầm chạy đến trước Quốc Công:
-         Bẩm Quốc công ! Ngài có mệnh hệ gì không ?
-         Không sao ! không sao !
-         Chúng con thức dây không thấy Ngài, chúng con lo lắng quá nên cử nhau chay đi tìm.
-         Ta vì muốn đi tìm hiểu vùng đất này, lại không muốn đánh đông các ngươi. Ngỡ là nhanh chóng về ngay nhưng vì cảnh vật kì thú quá mới hoá ra dềnh dàng, khiến các ngươi lo lắng, ta thật là không phải. Thôi các ngươi theo ta về trại chuẩn bị đi tiếp. À này Cả Sầm !
-         Dạ Quốc công cho gọi con ?
-         Phải, Ngươi về trại lấy một bó hương ra đây  rồi đi theo ta làm một việc này, còn tất cả mọi người khác cứ theo công việc của mình mà làm.
Hai thầy trò Quốc công nhằm hướng lùm cây rậm rap giũa núi Hà khê mà tiến tới, quả thật như lời vị bô lão nói. ở giữa những cây mọc hoang là một nền chùa có nhũng bức tường thấp đổ nát. Quóc công rẽ  cành cây  tiến vào trong, đến cạnh nền gach nát ngài ứa nước mắt, thắp hương khấn:
-         Bà lão có lòng tin ở tôi, vậy tôi xin nguyện hết lòng thực hiện nguyện ước của Bà. Bà để tôi thư thả một thời gian, tôi sẽ tu bổ lại nơi cư ngụ nơi trần thế này của bà. Xin bà phù hộ cho tôi và trăm họ an lành, thực hiện được đất nước thống nhất, dân tộc thịnh vượng.
 Dứt lòi ông cắm bó hương xuống cạnh tường gạch, bỗng một luồng gió mát thoảng đến cuộn quanh nền chùa làm bó hương bùng cháy thành bó lửa, những nén hương cháy hết nhanh còn trơ tàn xoắn cong lại. Quốc công biết rằng bà lão đã chấp nhận lời thỉnh cầu của mình, ông liền chắp tay vái 4 phưong đáp lễ rồi thong thả quay trở ra. Không nói một lời nào giai thích những gì mình đã làm vừa rồi, Quốc Công hạ lệnh trở về Ái Tử.
 Binh sĩ  xôn xao về việc trở về đột ngột của chủ tướng. Không ai cắt nghĩa được vì sao mà cuộc du ngoan bị phá vỡ, nhiều người cho rắng Quốc công của họ bị đau ốm nên phải bỏ dỡ hành trình. Cả Sầm phải đứng ra tuyên bố:
-         Thưa anh em ! Đức Quốc công không hề bị ốm, ngài trở về đột ngột là vì một lí do đặc biệt, tôi không biết rõ lắm đó là gì, nhưng tôi dám chắc với anh em đó là một lí do đưa lại nhiều điều tốt đẹp cho chúng ta sau này.
Trong khi đó Quóc Công Nguyễn Hoàng cho vời người mưu sĩ tâm phúc nhất đến tư dinh. Hai người ngồi trong phòng kín, nơi được canh phòng cẩn mật nhất trong Dinh cát.
-         Tiên sinh hãy nghe tôi kể hết chuyện này, rồi hai chúng ta sẽ cùng suy nghĩ để tìm hết ý nghĩa trong đó.
 Người mưu sĩ ngồi nghe Quốc công kể lai toàn bộ câu chuyên kì bí xong, hai người ngồi lăng bên nhau nhìn vào ngon nến đang cháy bập bùng giữa bàn. Vị mưu sĩ lên tiếng trước:
-         Thưa Quốc công, ngài trở về giữa chừng như thế này, tôi đồ chừng Ngài đã luận được phần nào ý của bà lão trong khi báo mông cho Ngài.
-         Phải ! Tôi cũng có ý rồi nhưng không chắc là đúng.
-         Tôi cũng phần nào hiểu và tôi cũng chưa chắc đã đúng.
-         Vậy thì ta làm cách này để hai chúng ta nói lên suy nghĩ của mình mà không sợ bị ảnh hưởng cách nghĩ của người kia: chúng ta viết ngắn gọn lời giải của mình vào một mảnh giấy rồi trao cho nhau, Ngài đồng ý chứ ?
-          Tôi đồng ý!
Hai người ngồi quay lưng vào nhau và hí hoáy viết. Chỉ nhoáng một cái cả hai đều quay lại và trao cho nhau hai mảnh giấy gấp đôi lai. Đọc xong hai người đều bật cười sảng khoái:
-         Tuyệt thật ! Tuyệt thật !
Khi họ đặt hai tờ giấy mở to cạnh nhau trên mặt bàn, cả hai đều có hai chữ:
               
.
Quốc công Nguyễn Hoàng gọi người rót hai chén rượu, rôi hai người cung chén ngửa cổ uống sạch một cách khoan khoái. Đặt chén xuống bàn Quóc công nói:
-         Bây giờ thì xin tiên sinh nói hết ý nghì của mình cho tôi nghe xem nào !
-         Vâng ! Thưa Đức Ông, tôi xin phép được giải thích để Ngài tham khảo:
Chính Bà lão đã làm phép sai khiền con tuấn mã của Đức ông cưỡng lệnh không đi tiếp, Bà muốn Ngài ở lại vung đất thiêng đó một đêm. Bằng cách xui khiến Ngài uống rượu là để Ngài dễ dang đi vào giấc mộng, lúc mà âm dương gặp được nhau và trò chuyện không có cảm giác sợ hãi manh động. Ngon núi Hà khê và Ngôi chùa cổ trở nên mất thiêng là do Cao Biền cắt đứt Long mạch băng cách hắn cho người đào hào sâu sau núi, đồng thời bằng cách làm đó khiến bà lão bị tổn thương ngang hông khiến chân bên phải bị tê liệt. Về việc này chúng ta chỉ cần sai thầy pháp phá yểm xong lấp con hào lại là được, Ngài đã nguyện xây lại chùa thì cứ cho làm sau khi phá yểm lấp hào.
Việc bà lão  đã chủ động đến gặp Đức ông trong mộng cũng như làn gió nhẹ làm bó hương cháy bùng lên, chúng tỏ rằng Đức ông chính là vị Chân Chúa mà Bà lão đã báo trước với mọi người dân ở đó bằng chữ viết trên lá cây và xui khiến người bạo gan đến lấy mà truyền tụng.
Chiếc gậy gỗ bà lão chống có đầu Rồng tạo hình chữ „liễu“ nghĩa là „kết thúc“, „kết liễu“ không tốt:
                                       

 cành chĩa ngang là chữ „ nhất“:
                                                 

ghép vào hai chữ như hình cây gậy của bà lão chính là chữ „Tử“ nghia là „con“ hoặc danh xưng là „thầy“ rất tốt:
                                                    
 Nước Nam của chúng ta nếu đựoc mở rông đến Gia định, Hà tiên , Rạch giá Phú quốc,  công thêm các đảo Hoang sa, Trường sa (tạo nên cành ngang hình chữ „ nhất“), những vùng này tạm thời chưa thu lại được, nhưng như Bà lão nói thì trong nguyên thuỷ đã được „định phân tại Thiên thư“ là của chúng ta thì  Nước Nam trọn vẹn có hình chữ „tử“:
             
 Như vậy chính Bà lão nhờ Đức Ông chữa lại cây gậy đầu rồng bị ngắn lại, khi đựoc đức ông hỏi cách chữa lại gậy  bà lão chỉ về bờ nam sông Hương, tức Ngài phải tiến về phía Nam để lấy lại những phần đất còn thiếu của nước Nam ta. Làm đựợc việc đó chính là chữa được cây gây kì lạ của bà lão, hoàn chỉnh chữ „tử“. Khi đó bà lão sẽ nhận con cháu của Đức ông làm con. Tên bà lão là Thiên (chùa Thiên mỗ, núi Thiên mụ), vậy „con của bà Thiên“ chính là :

                          
„Thiên tử „( con trời) tức là dùng để gọi các Vua,  nghĩa là khi hoàn thành mở mang bờ cõi đất nước con cháu của ngài sẽ thống nhất được nước Nam và được phép xưng Vua của cả nước.
Quốc Công Nguyễn Hoàng sảng khoái ngâm to bài thơ của Lý Thường Kiêt:
                        „ Nam quốc sơn hà Nam Đế cư
                           Tuyệt nhiên định mệnh tại Thiên Thư
                           Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
                          Nhữ đẵng hành khan thủ bại hư „
Mệnh nước đã chọn ông, dòng dõi của ông  để trao trọng trách, bây giờ thì ông có thể yên tâm để mưu việc lớn mà không phạm  vaò tội phản nghịch đối với Triều đình Vua Lê – Chúa Trịnh ở Thăng long nữa.
Năm 1601, Quốc công Nguyễn Hoàng cho người phá yểm cho núi Hà khê, rồi khởi công xây dựng một ngôi chùa mới to lớn nguy nga trên nền chùa cũ, ông đặt tên là chùa Thiên mụ. Cũng từ đó Ông tự xưng là Chúa Nguyễn Hoàng, củng cố thanh thế xây dựng lực lượng, một mặt chống đỡ với sự tiến đánh của chúa Trịnh từ phía Bắc, một mặt tiến hành chinh phạt mở mang bờ cõi về phương Nam.
 Những người tâm phúc của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng theo ông chinh chiến lập được công trang đều được trong thưởng và cấp đất để thành lập nên các làng xã trù phú, làm hậu phương vững mạnh cho các cuộc hành quân. Cả Sầm và gia đình với 3 người con trai cũng được giao cho khai phá một vùng đất ngay phía nam Phú xuân, thuộc huyện Hương thuỷ bây giờ.Khi trưởng thành những người con trai của Cả Sầm – Lê Huy Sầm -  thay cha theo nghiệp binh trở thành nhưng vị tướng  tuy không xuất sắc nhưng cũng có nhiều công tích nên 1 người được chúa Nguyễn cho mang họ của chúa, một người đổi họ thành họ Võ, một người giữ lại họ Lê. Vì vậy cùng làng đó phát thành 3 chi khác nhau Nguyễn -  Võ - Lê cho đến bây giờ.
Ông Kim dừng lại, uống một ngụm nước  chè nóng, rồi quay sang Huy Đông:
-         Cháu chính là hậu duệ ngày nay của họ Lê đó.
Ông chỉ tay về phía bờ:
-         Bây giờ ta tạm dừng thuyền, lên bờ viếng thăm chùa Thiên mụ, rồi sau đó sẽ xuống thuyền đi tiếp.
Chiếc thuyền quay mũi vào bờ, hướng tới  Tháp Phước duyên  trước Chùa Thiên mụ  đang vươn 7 tầng cao của minh trên nền trời xanh. 
Sau khi thắp hương trong nội điện, ông Kim dẫn Huy Đông và Hương Giang đi vãn cảnh chùa, tới đâu ông đều kể rõ gốc tích ý nghĩa của các di tích. Dừng trứớc đài bia lớn gần cổng, ông nói:
-         Suốt 9 đời Chúa và 13 đời Vua Nguyễn, chùa Thiên mụ bao giờ cũng được họ chăm sóc, tôn tạo càng ngày càng uy nghi hơn, vì họ cho rằng Chùa Thiên mụ là chốn dựa lưng tâm linh cho cả dòng họ của họ.
Khi mọi người đã yên vị trong khoang thuyền, người chủ thuyền đã cho thuyền tiếp tục ngược dòng. Huy Đông liền hỏi ông Kim:
-          Thưa chú ! Với sự ủng hộ của Thiên mụ tức được trời đất chống đỡ cho họ Nguyễn, vây chúng ta làm sao giải thích về việc nổi dậy của nhà Tây sơn, rồi việc dòng họ các chúa Nguyễn bị Tây sơn bắt giết gần hết, mồ mả các chúa bị khai quật huỷ hoại, chỉ còn sót Nguyễn Phúc Ánh lúc đó mới 17 tuổi may mắn trốn thoát chay tân sang Thái lan xin cầu viện ?
-         Câu hỏi của cháu cũng chính là câu hỏi của Nguyễn Phúc Ánh trong điện thờ chùa Thiên mụ  mà ông cần được trả lời,  đó   lúc Nguyễn Phúc Ánh đã đánh bại nhà Tây sơn giành lại giang sơn thống nhất trọn vẹn, thực hiên được lời hứa của Chúa tiên Nguyễn Hoàng, và chính thức lên làm vua Gia long. 
Hương Giang bật hỏi một cách háo hức:
-         Ông có được Bà lão báo mộng không ba ? câu trả lời là như thế nào ?
Ông Kim mỉm cười:
-         Từ từ đã con ! Vua Gia long tức Nguyễn Phúc Ánh không gặp được Bà lão Thiên mụ, mẹ tinh thần của mình, hay nói đúng hơn mẹ Trời của ông tránh không muốn gặp con mình, mặc dù ông đã hạ trại qua đêm ở cạnh bờ sông suốt 3 ngày 3 đêm rồi. Đến ngày thứ tư khi ông vừa thức giấc, thì quân thị vệ vào tâu:
-         Thưa Hoàng thượng, có một ông lão xin vào gặp ngài 1
-         - Ông ta xin gặp ta có việc gì ?
-         Bẩm Hoàng Thượng, chúng con đã hỏi nhưng ông ta không nói, chỉ nằng nặc gặp bằng đựoc Ngài thôi.
-         Thôi được ! Cho ông ta vào !  
Quân thị vệ dẫn vào trong trại một ông già tóc râu tóc bạc phơ, nhưng dáng đi khoẻ mạnh. Ông lão quì xuống thi lễ:
-         Hạ thần kính chào Hoàng Thượng.
-         Chào ông lão, ông muốn gặp ta có điều gì ?
-         Sáng nay lão có việc phải ra ruộng sớm, giữa  đường lão gặp một bà lão mặc áo đỏ quần xanh ngăn lão lại nhờ lão đến gặp Hoàng thượng để chuyển một cho Ngài một món quà.
Nghe vậy vua Gia long lật đật chay đến: -
-         Món quà ấy đâu đưa cho ta nào !
Ông lão dâng lên cho nhà vua  một gói nhỏ, trước khi mở ra xem, vua Gia long  sai gia nhân lấy ghế mời ông lão ngồi. Trong túi vải là một bộ cờ tướng làm nhà vua hơi thất vọng:
-         Chỉ là thứ đồ chơi này thôi sao ?
-         Dạ ! bà lão còn nhờ nói lại với Hoàng thượng một điều: Nhân quả là luật muôn đời, vì nóng vội phục thù mà ngài đã làm nhiều điều vô ich, tự hại thanh danh, phạm vào cấm kị, tổn hại con cháu sau này. Âu cũng tại cái tên ngoại bang o bế linh khí mà thôi. Bẩm Hoàng thượng, chỉ dăn lão như vậy, rồi bà ta quầy quả chào rồi đi mất.
Vua Gia long sụp xuống trước ông lão:
-         Ông có phải là Tiên không ?
-          Ông lão hoảng sợ lẫy bẫy quì xuống:    Không phải ! Không phải !
 Vua cầm tay ông lão, mới tin mình không nằm mơ.
Sai lính tiễn ông lão ra về rồi, Gia long vào chùa thắp hương tạ từ, xong lui quân, từ đó ông không có ý trách cứ Thiên mụ  và cũng không truy sát thêm dòng tộc nhà Tây sơn như trước nữa.
-         Thế là thế nào ? con không hiểu câu trả lòi của Bà mụ cho Ngài Ngyễn Ánh !
   Tuy không được Vua Gia long cắt nghĩa rõ rang cho ai nữa, nhưng nhiều người vẫn luận ra được:
      Chính sự diễn biến giữa các quốc gia và giữa các phe phái trong một quốc gia có những lúc như trong các ván cờ tướng thiên biến vạn hoá. Mệnh đế vương của dòng họ Nguyễn   tuy không trường tồn nhưng cũng chưa đứt đoạn, khi đến đời chúa Nguyễn thứ 7 là Nguyễn phúc Khoát chiếm đựơc  Thuỷ Chân lạp và nhiều lần can thiệp vào Cao miên (Căm pu chia) sự phát triển cơ nghiệp của các chúa Nguyễn lên tới cực thịnh. Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát chính thức xưng Vương, tức Nguyễn Vũ Vương. Sau khi xưng Vương, Nguyễn Phúc Khoát đặt ra nhiều nghi lễ , phong tục để trở thành một nước độc lập ngang hàng với Vua Lê – chúa Trịnh ở ngoài Bắc. Ngoài ra, chúa Nguyễn còn tăng cường xây dựng cung điện, đền đài nguy nga. Các quan lại, tôn thất cũng đua nhau xây cất. Vì thế dân gian phải phục dịch và đóng nhiều thuế hơn trước. Nhiều nông dân bị bóc lột bần cùng.
      Hệ thống thuế của chúa Nguyễn rất cồng kềnh và phức tạp. Năm 1741, Vũ Vương ra lệnh truy thu thuế của cả những người đã bỏ trốn với gia đình họ, tới năm 1765 lại ra lệnh truy thu thuế của 10 năm trước. Giai cấp quý tộc và địa chủ tìm nhiều cách để chiếm đoạt đất đai của dân để hưởng thụ xa hoa. Sử ghi lại rằng đại thần  Trương Thúc Loan sau một trận lụt phải trải vàng ra khắp sân nhà để phơi, từ xa trông lại sáng chóe một góc. Nhiều nông dân bị phá sản. Điều đó khiến mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt.
     Năm 1765, Nguyễn Phúc Khoát qua đời, chính sự họ Nguyễn rối ren quanh việc chọn người lên ngôi chúa. Vũ Vương vốn trước lập con thứ 9 là Hiệu làm Thế tử, nhưng Hiệu mất sớm, để lại người con là Dương. Con cả của Vũ Vương là Chương cũng đã mất. Đáng lý ra theo thứ tự khi Vũ Vương mất, phải lập người con thứ hai là  Nguyên Phúc Luân lên ngôi, nhưng quyền thần Trương Phúc Loan nắm lấy triều chính, tự xưng là “Quốc phó”, giết Luân mà lập người con thứ 16 của Vũ Vương là Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên ngôi, tức là Định Vương, để dễ về thao túng. Trong triều đình cũng như bên ngoài dư luận nhiều người bất bình vì khi Luân đã chết thì ngôi chúa lẽ ra phải thuộc về Nguyễn Phúc Dương.
       Như vây, dòng họ Nguyễn của chúa Tiên Nguyễn Hoàng có nguy cơ bị xoá sổ trên bàn cờ chính trị Viêt nam, lời hứa của bà lão trên đồi Hà khê có cơ không thực hiện được. Trong khi các thế lực chung quanh lại rất hùng mạnh, sẵn sàng thôn tính và tiêu diêt đứa con có nguy cơ chết yểu này.
       Năm 1769 vị vua mới của nước Xiêm là P'ya Taksin tung ra một cuộc chiến nhằm tìm cách lấy lại quyền kiểm soát nước  Chân lạp vốn chịu nhiều ảnh hưởng của chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn buộc phải lùi bước khỏi những vùng đất mới chiếm và có nguy cơ bị giành lại các vùng khác ở phía nam.
       Phía Bắc chúa Trịnh cũng đang tập hợp lực lượng quyết dứt điểm cuộc tranh chấp hàng trăm năm giữa Đàng trong và Đang ngoài vốn không phân thắng bai bấy lâu nay, họ Trinh đã nhận biết thời cơ đang đến. Nếu chúa Trinh chiếm đựoc Phú xuân, với kinh nghiệm cai trị hang thế kỉ của họ và với lực lượng quan lai có học hành bài bản, họ Nguyễn sẽ không cò cơ hội khôi phục lại được dù có sống sót trong các cuộc tảo thanh.
      Ván cờ chính trị Việt nam dược chuyển sang ván cờ thí, ẩn tướng. Tất cả xe, pháo, mã đều bị thí chỉ giữ lại vài con tôt sẽ giành chiến thắng lúc tàn cuộc.
  Và cuộc khởi nghĩa Tây sơn của ba anh em: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ dường như được tạo ra từ ý trời để dọn đường cho họ Nguyễn trở lại chính trường với giang san thống nhất. Để trả nợ, họ Nguyễn phải chịu bị tiêu diệt gần hết, nhưng phải cứu lại 1 đứa cháu vốn không được truyền ngôi chúa Nguyễn và phải chịu nhiều gian khổ, lưu lạc. Khổ kế đó giáng lên đầu Nguyễn Phúc Ánh hay còn được gọi là Nguyễn Ánh.
     Nguyễn Phúc Ánh sinh vào năm Nhâm Ngọ (1762) là con trai thứ 3 của Nguyễn Phúc Luân và bà Nguyễn Thị Hoàn Khi còn nhỏ Nguyễn Ánh còn có tên khác là Nguyễn Phúc Chủng . Năm ông 4 tuổi, cha ông bị quyền thần  Trương Thúc Loan bắt giam và chết trong ngục. Năm ông 9 tuổi (1771), khởi nghĩa  Tây sơn bùng nổ. Năm ông 13 tuổi (1775),  chúa  Nguyễn bị Chúa Trịnh và quân Tây Sơn đánh kẹp từ hai mặt, ông cùng chúa Nguyên Phúc Thuần chạy vào Quảng Nam rồi vượt biển vào Gia Định.
      Năm 1777, cả Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần, Tân Chính Vương  Nguyễn Phúc Dương cùng anh ruột Nguyễn Ánh là Nguyễn Phúc Đồng và một số người trong gia tộc khác bị tướng Tây Sơn là Nguyễn Huệ bắt giết, chỉ có một mình ông thoát nạn ở Long Xuyên. Tháng 6 âm lịch năm 1783, bị một tổng suất của quân Tây Sơn là Phan Tuấn Thuận truy kích, Nguyễn Ánh trốn bằng cách cỡi trâu lội qua sông rồi đem mẹ và vợ con ra Phú Quốc, Quân Tây Sơn truy tới nơi, nhờ có một tướng tên là Lê Phước Điển mặc áo ngự đóng giả Nguyễn Ánh khiến Tây Sơn bắt nhầm; ông chạy thoát chạy ra được dảo Cổ long, mất hết thuộc tướng. Một tháng sau, dò biết được Ánh đang ở Phú Quốc, Nguyễn Huệ sai phò mã Trương Văn Đa của Tây Sơn kéo quân vây đánh 3 vòng trùng trùng điệp điệp, nhưng lúc đó bỗng nổi lên một cơn bão biển, các thuyền Tây Sơn phải giãn ra và một số bị đánh đắm, Nguyễn Ánh thừa cơ lên thuyền trốn sau 7 ngày đêm lênh đênh trên biển, ông quay ra hòn Cổ Cốt rồi về đảo Phú Quốc. Thời gian này, vì thiếu lương thực binh sĩ ông phải đi hái cỏ, đào củ để ăn. Ông chạy ra đảo Thổ chu  sống li hương ở đó.
      Ba anh em Tây sơn vốn xuất thân từ tâng lớp thấp, không được đào tạo bài bản . Cuôc khỏi nghĩa của họ nổ ra như là một ngẫu hứng được phù trợ một lực lượng chống lưng siêu hình nào đó. „ Tiến công thần tốc, thắng lợi chớp nhoáng“ là đặc điểm của những chiến công đúng thời cơ, hợp ý trời cũng như thiên tài chỉ huy siêu phàm. Trong trường hợp này Quang Trung Nguyễn Huệ, khởi nghĩa năm 1771, lên ngôi Hoàng đế năm 1788  rồi mất đột ngột không rõ lí do năm 1792, có vẻ như là một thiên tướng, sau khi hoàn tất sứ mệnh là phải quay về thiên giới ngay. Mất lợi thế quân sự, triều đại ông nhanh chóng bị loại ra khỏi ván cờ chính sự vì không đủ tài năng cai trị, cộng thêm nỗi nhục huynh đệ tương tàn.
      Trải qua nhiều thăng trầm , Nguyễn Ánh với tài thao lược trị dân có bài bản, trông xa thấy rộng , dể dàng thu nhận thành quả thống nhất non sông, không còn nhà Lê, không còn chúa Trịnh. Những nước lân bang còn khiếp sợ trước một thất bại kinh hoang trước nước Nam vừa qua, tạm không dám xem thường mà gây hấn. Ván cờ thiên mệnh của bà lão trên núi Hà khê đã thành công. Con trai đỡ đầu của bà lên ngôi Thiên tử - Hoàng Đế Gia long : Gia định – Thăng long.
    Cả hai anh em Huy Đông và Hương Giang đều ngồi lặng đi khi ông Kim kể xong về ván cờ thiên mệnh gê gớm nhất trong lịch sử Việt nam cận đại. Nếu như vậy thì quả là phủ phàng cho anh em Tây sơn và con cháu của họ quá, số phận đã được định đoạt trước của họ, đẩy họ vào thời cuộc chính trị phong kiến mà người chiến bại phải trả giá bằng tính mạng của cả dòng tộc. Vinh quang của thiên tài quân sự  Quang Trung Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải của dân tộc Việt nam loé lên như một ngôi sao băng, nhưng không thoát được định mệnh phũ phàng của một người thí thân dọn đường cho một thơi kì lịch sử mới của nước Viêt,  thời kì phong kiến cuối cùng, thời ki mà hậu thế sẽ còn phải tốn nhiều công sức định xét công và tội.
-         Thưa Ba ! Đó là ý nghĩa của bộ cờ tướng ! Thế còn lời nói nhắn lại cho Vua Gia long của Bà lão là nghĩa như thế nào hở Ba ?
Hương Giang không để cho chú Kim uống hết chén nước chè xanh còn nghi ngút hơi nóng mà người chủ chiếc thuyền vừa rót ra từ một bình giữ nhiệt chứa nước uống. Ông Kim vui vẻ bảo Đông:
-         Bây giờ thì đến lượt cháu giải thích cho Hương Giang, chú nghĩ là với kiến thức lịch sử chuyên sâu như cháu điều đó không có gì là khó hiểu cả !
Dạ thưa chú, theo cháu thì Thiên mụ muốn nhắc đến những sai lầm của Nguyễn Ánh trong thời kì bị quân Tây sơn đánh bai. Ông ta vì uất ức dòng họ của mình gần như bị tuyệt diệt, lăng tẩm của tổ tiên bị khai quật phá phách, bản thân thì bị truy sát phải trốn chạy đến nhưng hang cùng ngõ hẻm xa xôi. Nguyễn Ánh dã hai lần cầu viện nước ngoài:
Cầu viện Xiêm. Do Nguyễn Ánh liên tiếp gặp những thất bại trước quân Tây Sơn  tháng 3 năm 1784 Nguyễn Ánh chính thức cầu viên vua Xiêm Rama I mà không màng việc thân tướng là Nguyễn Văn Thành hết sức can ngăn việc cầu ngoại viện này. Đánh giá hành động này của Nguyễn Ánh, cầu viện quân đội nước ngoài vì lợi ích gia tộc, các sử gia hiện đại gọi là: "rước voi về giày mả tổ" và "cõng rắn cắn gà nhà". Tuy nhiên, ngày nay các nhà sử học Việt Nam đã có cách nhìn khác về việc nhờ cậy Xiêm của Nguyễn Ánh.
Vua Xiêm nhân cũng đang có chiến tranh với Tây Sơn nên đồng ý giúp Nguyễn Ánh để dùng ông phân tán lực lượng Tây Sơn, hai tướng là Chiêu Tăng, Chiêu Sương nhận lệnh đem 2 vạn quân thủy cùng 300 chiến thuyền. Ngoài ra còn có 3 vạn quân bộ tiến sang Chân Lạp với danh nghĩa giúp vua Chân Lạp, thực chất với ý đồ tạo gọng kìm phía Tây, chờ cơ hội tiêu diệt quân Tây Sơn. Quân Xiêm nhanh chóng lấy được Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc và làm đủ điều tàn bạo với dân chúng khiến cho Nguyễn Ánh rất thất vọng; riêng Châu Văn Tiếp thì tử trận tại Mân Thít. Tướng Tây Sơn giữ đất Gia Định là phò mã Trương Văn Đa, thấy quân Xiêm thế lực mạnh, bèn cố thủ tại Gia Định và sai người về Quy Nhơn báo. Vua Tây Sơn sai Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ đem quân vào đánh. Tây Sơn đã thắng lẫy lừng trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút. Chỉ một trận quyết chiến diễn ra không đầy một ngày đã tiêu diệt gần 2 vạn quân Xiêm, chỉ sót vài nghìn người chạy theo đường thượng đạo trốn về nước. Các tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương chạy theo đường bộ về Xiêm; còn Nguyễn Ánh phải bỏ chạy theo đường thủy qua Thổ Chu rồi về Cổ Cốt, sau đó một viên cai cơ tên Trung đem binh Xiêm đến đưa về Vọng Các, Xiêm La
 Cầu viên Pháp.Ngày 28 thang11 năm 1787, tại cung điên Versailles, Bá Đa Lộc với tư cách là đại diện của Nguyễn Ánh đã ký với Thượng thư Bộ Ngoại giao Pháp , một bản hiệp ước "Tương trợ tấn công và phòng thủ" (thường gọi là Hiệp ước Versailles). Hiệp ước này gồm có 10 khoản, nội dung chính là về việc vua Pháp cam kết cung cấp cho Nguyễn Ánh 4 chiếc tàu chiến  cùng 1.200 bộ binh 200 pháo binh và 250 lính  và các phương tiện trang bị Vũ khí tương ứng; ngược lại Nguyễn Ánh chấp thuận nhường cửa biển Đà nẵng và quần đảo Côn Lôn cho Pháp, cho phép người Pháp được quyền tự do buôn bán và kiểm soát thương mại của người nước ngoài ở Việt Nam, mỗi năm sẽ đóng trả cho Pháp một chiếc tàu giống với loại tàu Pháp viện trợ đồng thời cung cấp lương thực và quân nhu thiết yếu cho Pháp khi Pháp có chiến tranh với một nước khác ở khu vực Viễn Đông. Ngày 27 tháng 12 năm 1787, Bá Đa Lộc cùng hoàng tử Cảnh được Ngyễn Ánh cho đi theo làm tin rời Pháp và trở lại Pondichéry để đợi sự chi viện từ phía chính quyền Louis, nhưng ngày 14 tháng 7 năm 1789 giai cấp tư sản Pháp đã làm cuộc cách mạng lật đổ triều đại phong kiến Louis, thiết lập nền cộng hòa tư sản, cộng thêm việc Bá tước nhận trách nhiệm chi viện là De Conway vốn có hiềm khích với Bá Đa Lộc đã tấu sàm, nước Pháp tỏ ra không muốn nhắc đến hiệp ước cũ nữa. Có ý kiến cho rằng, tuy là ký kết dưới danh nghĩa Nguyễn Ánh, nhưng người chịu trách nhiệm về việc soạn ra các điều khoản đặc biệt có lợi cho phía Pháp trong hiệp ước này có thể là giám mục Bá Đa Lộc chứ không phải là chính bản thân Nguyễn Ánh; nếu không có lệnh đình chỉ việc thực thi điều ước thì khi trao đổi văn kiện chưa chắc Nguyễn Ánh đã chịu chấp nhận một hiệp ước bất bình đẳng như thế này. Nhưng dù như thế nào, Hiệp ước Versailles năm 1787 chính thức đánh dấu mối quan hệ ràng buộc giữa hai chính quyền Louis XVI và Nguyễn Ánh, cho phép nước Pháp có cơ sở pháp lý để đòi hỏi quyền lợi ở Việt Nam một cách hợp lý về sau và khẳng định trước thế giới phương Tây quyền thâm nhập Việt Nam của tư bản Pháp.
Hai lần cầu viện này của Nguyễn Ánh thực tế đều không đưa lại kết quả như mong muốn, không gây đảo ngược tình thế trên chiến trương lúc đó. Hai việc làm không hiệu quả. Trong lịch sử chiến tranh  từ cổ đại đến nay của loài người việc cầu viên là hiên tương bình thường, mặc dù nhiều khi người ta dùng những tên gọi mĩ miều hơn như viện trợ, viện trợ không hoàn lại, chí nguyện quân …   và hậu quả vẫn có nhiều nước cho đến nay vẫn còn loay hoay trong sự lệ thuộc chính trị, kinh tế và đấu tranh chủ quyền lãnh thổ. Vì vậy cầu viên là một biện pháp chính đáng nếu đúng lúc, hợp với lợi ích dân tộc và quan trọng hơn là phải chế ngự được lực lượng viện binh và không để lệ thưộc vào chính thể gửi viện binh.
   Khi Nguyễn Ánh có ý định vầu viện, ông chưa phải là người đại diên hợp pháp cho nước Việt nam lúc đó, nên nhớ rằng ông không được truyền ngôi chúa Nguyễn , chạy trốn khỏi Phú xuân khi mới 9 tuổi, tất cả họ hàng có chức quyền của ông bị bắt và bị Nhuyễn Huệ giết chết khi ông mới 13 tuổi và phải chay trốn trối chết như một thường dân. Mặc dú sau đó ông tự nhận là quốc vương nhưng  trên thực chất ông không có chính thể, chỉ là một nhúm người sống lưu vong. Như vây xết trên sự sống còn của bản thân và dòng tộc,  việc kết làm bạn và dựa được một thế lực lớn để đạt mục đích của mình là một mong ước hợp logíc của một người bình thường. Cũng phải nhớ rằng trước việc quân Xiêm bức nhiễu dân Viêt, Nguyễn Ánh đã có lần than rằng“ Để cho trăm họ khổ nhục thế này thì việc lấy lại được nước phỏng còn ích lợi gì nữa“.
   Trong thâm tâm Nguyễn Ánh cũng như những người ủng hộ ông khi đó ( họ là những người thuộc tầng lớp trên trong xã hội và những người giàu có) thì cuộc khởi nghĩa nông dân Tây sơn không được xem là chinh nghĩa: Gốc tích xuất thân của lãnh tụ thấp, ít học vô danh, quân lính nông dân xuất xứ vùng có truyền thống võ thuật nghĩa hiệp ngang tàng lại là nơi có rưọu Bầu đá  Bình định nổi tiếng thích đánh nhau như đi chia phần mà hăng hái liều mạng, lại thu nạp cả hai toán kẻ cườp người Hoa hung dữ, quân đi đến đâu thi cướp bóc của người giáu phân phát cho người nghèo, nghe qua thì chính nghĩa nhưng thực chất là bất công vì hạ thấp giá trị tài năng của con người, dung túng cho lười biếng. Nhưng tướng giỏi như Nguyễn hữu Chỉnh có học thì chỉ sợ chứ không phục chủ tướng gặp dịp là phản lại.  Khởi sự thì dựng cờ phò giúp Nguyễn Phúc Dương lấy lại đạo lí, đủ mạnh thì truy giết hết thảy người dòng tộc, tráo trở cả trong quan hệ anh em ruột thịt với nhau. Vậy việc phải bằng mọi cách nhanh chóng dẹp đi  loạn quân đó là lí luận an ủi cho Nguyễn Ánh cầu viên ngoai bang, bỏ qua nỗi nhục bản thân.
   Khi trở thành Vua Gia long. Nguyễn Ánh đã làm khác đi, không mặn mà với Xiêm cũng như Pháp, nên việc ảnh hưởng của hai lần cầu viện không thành hoạ mất nước, cho đến 2 đời Vua con cháu tiếp theo của ông cũng vây. Sau này khi nước Pháp trở thành một Thực dân hùng mạnh, nhu cầu mở rộng thuộc địa như là một việc tất nhiên cần làm của họ mà không có sự phản đối nào trong dư luân thế giới. Với lực lượng quân sự hùng mạnh thiện chiến, việc ngang nhiên xâm lược Viêt nam thực chất họ chẳng cần lấy bất cứ cái cớ nào cả, cho rằng Hiệp ước Versailles là nguyên nhân mất nước là không chính xác, nó chẳng qua là câu chuyên ngụ ngôn „ con Cáo và con thỏ con“ mà thôi. Người Pháp họ có thể giết hết Triều đình nhà Nguyễn, xoá sạch họ Nguyễn rồi dựng lên một chính quyền bù nhìn khác mà chẳng khó khăn gì nếu Nhà Nguyễn chống cự quyết liệt, giữa việc được sống mà mất thực quyền với  việc bị giết sạch kèm với đất nước bị chiến tranh hoang tàn, sự lựa chon của Nhà nguyễn lúc bấy giờ cũng là dễ hiểu. Nước Việt nam lúc đó không có nhân vật kiệt xuất thực tài để chọn lối đi khác cho dân tộc, nếu có thì trải qua mấy chục năm việt nam đã trở nên giàu mạnh hùng cường rồi người  Pháp đâu có dễ khinh khi làm vậy. Đó cũng là ý  của phần cuối câu nói của ba lão Thiên mụ nhắn với Ngyễn Ánh và cũng  như  với người dân Việt nam nói chung.
    Ông Kim tiếp lời của Huy Đông
     Năm 1844, nhân dịp mừng lễ "bát thọ" của bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (vợ vua Gia Long, bà nội của vua Thiệu Trị), vua Thiệu Trị kiến trúc lại ngôi chùa Thiên mụ trên núi  Hà khê một cách quy mô hơn: xây thêm một ngôi tháp bát giác gọi là Từ Nhân (sau đổi là Phước Duyên), đình Hương Nguyện và dựng 2 tấm bia ghi lại việc dựng tháp, đình và các bài thơ văn của nhà vua.
   Buổi quốc lễ dược tổ chức rất qui mô, cả nước Viêt nam nhân dân đều nghỉ việc và bái vọng về triều đinh. Hàng đoàn người từ các vùng theo các quan lại địa phương mang tặng phẩm về Huế chúc thọ bà Thuân thiên Cao hoàng Hậu. Ngay ngày hôm sau, bà cho mời vua Thiệu trị sang cung Diên thọ, sau khi vua làm thủ tục kính mừng thọ bà nội một lần nữa và đã yên vị, bà nói:
-         Hôm nay ta cho mời nhà vua sang đây là vì ta có hai việc muốn bày tỏ:
Một là, ta rất cám ơn nhà vua đã tổ chức thương thọ 80 tuổi cho ta, tỏ rõ nhà vua là một người cháu rất hiếu thảo, làm gương cho thần dân nước việt về đạo nghĩa gia đình dù ở bất cứ địa vị nào trong xã hội. Tuy nhiên, ta cũng rất áy náy khi thấy vì mừng ta thượng thọ mà muôn họ phải tăng thêm thuế dịch để các quan có quà cho ta, mặt khác do tổ chức quá long trọng nên dân chúng ở Phú xuân, cũng như cả nước phải nghỉ việc mất nhiều ngày ảnh hưởng đến sản xuất. Ta mong nhà vua xem xét mà nới giảm cho dân chúng thuế má năm nay coi như là bỗng lộc của ta chia sẻ cho họ vậy.
Hai là, nhân lễ thượng thọ của ta được cháu tổ chức ở chùa Thiên mụ, ta nhớ lại một việc cần phải nhắc lại cho con cháu dòng họ Nguyễn của chúng ta một ước nguyên của Đức Thế tổ Cao hoàng đế khi sinh thời đã có nói với ta về  câu nói của Bà lão Thiên mụ nhắn lại với Người năm nào. Đức Thế tổ cho rằng do những việc ngài đã làm khi túng quẫn  bị nhà Tây sơn truy đuổi là cầu viên ngoại bang, đó là một vết nhơ trong sự nghiệp to lớn của Ngài. Vì sự tồn vong của gia tộc và vì sinh mạng mình mà Đức Thế tổ đã phạm vào đạo lí của một người chính nhân quân tử, và làm tổn hại linh khí sông núi nước Việt.  Mặt khác viêc Đức Thế tổ vì thù hận Tây sơn mà trả thù một cách quá tàn khốc là trái với tinh thần Phật pháp, vậy nên luật nhân quả Ngài gánh không hết mà có nguy cơ tổn hại đến con cháu của Ngài sau này. Dòng họ của chúng ta  vốn được ân sủng của Trời đất từ thời Chúa Tiên mới có cơ nghiệp như ngày nay, nhưng nay vì nghiệp chướng của Đức thế Tổ mà có cơ thất sũng, dù  chúng ta đã cúng bái tu chỉnh chùa chiền cũng khó mà chuộc lại được. Vậy nên việc dòng tộc họ Nguyễn ta có cơ bị lụn bại dần là không phải không có cơ xảy ra, nếu chúng ta không nhân thấy mà phòng bị trước.
    Đức thế tổ cũng nhắc ta truyền lại rằng, tổ tiên ta có gốc ở tỉnh Thanh, phát mệnh đế vương nhờ địa thế linh thiêng của quê hưong, nhưng theo truyền sử cho biết thì là do Cao biền thấy thế đất hình Rồng nhỏ và yếu, nếu  không hợp với thế mạch toàn cỏi nước Nam thành một khối thì tuy là nơi phát mệnh Đế vương nhưng không khoẻ và bền lâu, nên hắn mới để sót không yểm chặn. Vậy nên trong câu nói của Thiên mụ ngầm bảo rằng người nước Nam ta hãy tìm cách mà cởi trói cho địa linh nước Việt khỏi nạn yểm trừ của ngoại bang, bó buộc thân mình thì con Rồng cháu Tiên mói có cơ mở mày mở mặt sánh vai với các dân tộc anh minh khác.Có vậy thì Đức Thế Tổ nơi suối vàng mới tránh được đày đoạ quả báo.
Vua Thiệu trị ngôi lặng một lúc rồi mới cung kính:
-         Thưa Thái hậu, ý nguyện của Đức Thế tổ là nhiệm vụ của tất cả con cháu dòng tộc Nguyễn chúng ta cũng như của mọi thần dân nước Đại nam. Trẫm sẽ có trách nhiệm ngay lập tức xuống chiếu thi hành, xin Thái hậu yên lòng.
Hôm sau Vua cho vời các quan Đại thần trong Viện cơ mật vào điên Thái hoà bàn cách thực hiện trong trách của Thái hậu truyền cho. Quan Thái sư họ Lê đứng ra cung kính:
-         Bẩm Hoàng Thượng, từ lâu đã lưu truyền chuyện Cao Biền đựoc vua nhà Đường bên Trung hoa phái sang tìm cách yểm chặn linh khí của nước ta: Chuyện thực hư đến đâu chưa ai có thể biết đựơc vì trong sử sách có một quan Tiết độ sứ cũng tên là Cao Biền nhưng ông ta có công xây La thành và không chết ở Việt nam, vậy chúng ta muốn thực hiện đựoc ý nguyện của Đức Thế Tổ, thì không biết phải làm gì và bắt đầu từ đâu ? Thần trôm nghĩ đó là một việc không đễ dàng gì, vây nên Hoàng Thượng và các Quan bàn bạc kĩ càng mói đựoc.
Quan Thượng thư Bộ Lễ bèn xin nói:
-         Kính bẩm Hoành Thượng, thần nghĩ rằng chuyện Cao Biền là có thật vì nhiều vùng đất trên đát nước ta đều truyền tụng về việc làm bất nghĩa của hắn, dụ như ở Quảng ngãi, Ninh bình, Quảng binh, Thăng long…Ở Phú xuân, trong câu chuyên của Đức tổ Chúa tiên Nguyễn Hoàng truyền lại, Núi Hà khê cũng bị Cao Biền đào hào cắt long mạch, từ khi Chúa cho phá yểm và lấp hào thì Chùa Thiên mụ xây lên ngày càng linh thiêng và như lời của Đức Thế tổ truyền lại thì nhờ đó mà dòng dõi Vương gia nhận được nhiều ân sủng của mệnh trời mà nên đựoc nghiệp Đế vương như ngày nay..
Vua Thiệu Trị quay sang quan Thương thư bộ Hình:
-         Ngươi là Người có tai mắt khắp nơi và thông thạo việc điều tra  truy xét, vậy người hãy cho ta ý kiến của Ngươi trên cương vị là một vị quan cao nhất  của bộ Hình về việc này.
-         Kính  bẩm Hoàng Thựong, thần xin với Hoàng Thượng cho thần đựoc thời gian để truy xét và thảo nghị rồi thần sẽ có sớ trình cụ thể từng việc trình lên Hoang Thựong ngay trong thời gian tới.
-         Thôi được, Trẫm cho các thần suy nghĩ và tìm cách thực hiện nguyện ước của Đức Thế tổ ta.
Các Quan lạy chào Hoàng Thượng rồi lui về, ai cũng trầm ngâm lo lắng.
Một thời gian sau, Vua Thiệu trị nhận được sớ trình của Viên Cơ mật. Viên Thượng thư bộ Hình kính cẩn giải trình:
-         Bẩm Hoàng Thượng, Việc thực hiện nguyện ý của Đức Thế tổ là một nhiệm vụ cho chúng thần mang hai ý nghĩa:
+ Giải hạn nhân quả cho dòng tộc Vương gia khỏi vòng suy vong về sau.
+ Đối với dân tộc Viêt là đưa lại sự giải phóng năng lực phát triển tiềm năng không chỉ cho thời nay mà vĩnh viễn đến muôn đời.
Để làm đựoc công việc được trao, thần xin được Hoang thượng chuẩn y cho một kế hoạch như sau:
+ Ngay bây giờ các quan thư lại của Bộ Hình sẽ thông cho cho các quan cai trị của các địa phương gồm các Trấn, phủ, huyện, tổng và hương lí cả nước truy tìm, sưu tập các sự tích, truyền thuyết có liên quan đến phong thuỷ địa phương, dặc biệt là những nơi bị một lí do nào đó mà bị phong bế, yểm chặn bởi một người hoặc một nhóm người nào đó. Khi nhận được các phúc trình từ các nơi gửi về, thần sẽ cùng Quan Thượng thư Bộ Lễ và Quốc sư phân tích để tìm ra đâu là chứng cớ của Cao Biền đã làm vì có thể ở mỗi vùng hắn ta thay hình đổi dạng và  lấy tên tuổi khác nhau.
 Bằng cách đó Thần trộm nghĩ, chúng thần sẽ xác định được sự thật có một nhân vật Cao Biền - Pháp sư từ Trung hoa sang yểm chặn linh khí nước Nam ta, ngoài Tiết Độ sứ  tên là Cao Biền hay không? Hắn ta có thực sự có một tấm mật đồ đánh đấu các huyệt đạo của nứoc Nam hay không ? Nếu có một tấm mật đồ như vậy thì hiện giờ nó đang ở đâu ? Bằng cách tim biết được Cao Biền - Pháp sư này cuối đời sống ở đâu và khả năng hắn ta giấu ở chỗ nào trong nước ta hay ở cố quốc của hắn.
+ Về lâu dài thần nghĩ có thể phải trải qua nhiều đời Thiên tử và các quan của Viện cơ mật, cũng như gặp phải sự thay đổi cách thức tổ chức hệ thống cai trị, nên chúng thần thống nhất xin Hoàng thựong đặc cách xưống chiếu chỉ cho một dòng họ nào đó đã nhiều đời gắn bó trung thành với Vương gia nhận nhiệm vụ truyền đời này, như vậy thì nguyện ước của Đức Thế tổ mãi mãi được liên tục thi hành cho đến khi đạt được kết quả mới thôi. Thần xin được bẩm báo như vậy, mong Hoàng thượng xem xét rồi chuẩn y.
 Vua Thiệu trị gật gù:
-         Hay, thật hay, ta khen cho các Ngươi không phụ lòng tin của ta. Ta chấp thuận, thế nhưng các Khanh có đề xuất dòng họ nào thích hợp cho việc này chưa ?
Các vị Đại thần đều đưa mắt nhìn về phía quốc sư họ Lê, ông này liền từ tốn tiến ra một bước chắp tay thi lễ và nói.
-         Bẩm Hoàng Thượng, chúng Thần gồm các Quan trong Viện cơ mật đã thừa mệnh Hoàng thượng đã nhóm họp và bàn thảo nhiều lần rồi đi đến nhất trí tâu lên Hoàng Thựong kế hoạch như vừa rồi Ngài Thượng thư Bộ Hình đã trình bày, nếu Hoàng thượng phê chuẩn thì chúng thần xin mạo muội  đưa  thêm dự định cũng đã được cân nhắc  để tâu tiếp mà không mất thời gian họp lại một lần nữa. Thưa Hoàng thượng, dòng họ Lê của thần được tồn tại và phát triển thịnh vượng như ngày nay là nhờ tổ tiên của chúng thần tự nguyên theo hưỏng bỗng lộc của Vương gia, giờ đây  con cháu của dòng họ Lê lại nguyện mãi mãi  phục vụ  cho sự hưng thịnh trường tồn của dân tộc Việt nam. Thần đã gặp các trưởng họ của các chi trong họ Lê, ai cũng đồng lòng xin đước nhận trách nhiêm thực hiện nguyện ước của Đức Thế tổ và của Hoàng thựong, vậy xin Hoàng Thương ban phúc đó cho dòng tộc của của Thần, cụ thể là giao cho chi  họ Lê Huy. Chúng thần xin cúi đầu chờ ý kiến của Hoàng Thượng.
Vua Thiệu trị cả mừng .
-         Trẩm khá khen các khanh làm việc nhanh gọn và chu toàn, ta cám ơn các khanh. Ta nghĩ rằng việc này là do  bà nội ta Thuận thiên Cao hoàng Thái hậu khởi xướng, vây  trước khi xuống chiếu y chuẩn  ta phải tâu qua cho  Thái hậu biết và cho ý kiến. Các Khanh  chờ  ta tối nay sang thăm Thái hậu rồi ngày mai ta sẽ quyết định.
Các quan đều cúi đầu nhất loạt đồng ý. Nhà Vua tuyên bố bãi chầu, các quan đã lui  về tư dinh , nhưng  Ngài vẫn ngồi yên suy nghĩ  trong thư phòng. Vua Thiệu trị nghĩ nhiều về vận nước đang gặp nhiều khó khăn trong kinh tế và quốc phòng, mặc dù Ngài cố gắng hoá giải sự căng thẳng trong các mối quan hệ bang giao mở rộng thương mãi với ngoại quốc, nhưng nước Pháp đang lộ dần ý đồ xâm nhập chủ quyền nước Đại nam. Họ thì giàu mạnh,  có khoa học, kinh tế và quân đội rất phát triển. Chúng ta khó mà  nắm phần thắng  trong các cuộc chiến khi họ cố tình xâm lược mà bất chấp luật định. Số phận Vương triều  nhà Nguyễn sẽ đi đến đâu trong tương lai. Trong khi đó  hai hoàng tử mà Ngài xét thấy khá nhất để truyền ngôi cũng không được xuất sắc như cha ông của chúng:  Nguyền Phúc Hồng Bảo là Thái tử nhưng ham chơi, không chịu học hành rèn luyện, lại nông nỗi kém dũng khí. Nhà Vua nhớ lại nỗi cay đắng do Thái tử gây ra, đó là chuyên xảy ra  nhân dịp sứ thần nhà Trung hoa sang bang giao với Triều đình Đại nam, Ngài có ra vế đối:
        „ Bắc sứ lai triều“
Hồng Bảo không ngần ngại gì, liền đối ngay:
        „ Tây sơn phục quốc“
Làm nhà vua  giận tím cả mặt vì tuy câu đối rất chỉnh , nhưng  lại nhắc đến nhà Tây sơn, vốn là kẻ thù không đội trời chung của vưong triều  nhà Nguyễn. Ngài đành phải mắng đứa con nông nỗi,  mà trong lòng xót xa thất vọng:
-         Tây sơn mà phục quốc thì đâu còn ngôi mà truyền cho mày !
Hoàng Tử Nguyễn Phúc Hồng Nhậm tuy là đứa trẻ dễ dạy bảo, ngoan ngoãn và chăm học nhưng lại nhu mì, yếu đuối không có chí khí, quật cường. Cái hoạ mất nước không còn là xa vời nữa khi nước Việt được thống lĩnh bởi những kẻ hậu bối như thế.
Hôm sau trong buổi gặp các quan Đại thần trong Viện cơ mật, ngài xuống chiếu giao cho chi họ Lê Huy nhiệm vụ tìm bằng được bức mật đồ Cao Biền với sự giúp đỡ tối đa của Bộ Hình và quan lại của các địa phương trong cả nước.
     Năm 1847 vụa Thiệu trị mất, Hồng Nhậm lên ngôi lúc 19 tuổi, lấy niên hiệu là Tự Ðức, việc lên ngôi của Tự Ðức bị nhiều người nghi ngờ nên cũng có người chống. Hồng Bảo âm mưu với một số người để tìm cách giành lại ngai vàng. Việc bại lộ, Hồng Bảo bị hạ ngục và bị kết án tử hình. Tự Ðức tha chết cho anh nhưng cho lệnh giam lại, nhưng không hiểu sao Hồng Bảo thắt cổ chết trong ngục.
   Ðời vua Tự Ðức có rất nhiều loạn lạc (giặc cờ Ðen, cờ vàng, cờ Trắng, nội loạn, phò Lê diệt Nguyễn v.v...) và cũng là giai đoạn đầu mà Pháp đánh Việt Nam.
    Năm Tự Ðức thứ 9, có chiến thuyền "Catinat" vào cửa Ðà Nẵng rồi cho người đem thư lên trách triều đình Việt Nam về việc giết đạo Thiên Chúa. Không được trả lời, quân Pháp bắn phá các đồn lũy rồi bỏ đi. Có ông Giám mục Pellerin trốn được lên tàu. Giám mục Pellerin về Pháp thuật lại cho triều đình Pháp cảnh các giáo sĩ Thiên Chúa giáo bị đàn áp dã man ở Việt Nam, và nói rằng chỉ cần có loạn là các tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ nổi lên đánh giúp, lại có bà Hoàng hậu Pháp Eugénie rất sùng đạo nên cũng nói giúp ông Pellerin. Pháp Hoàng mới quyết ý sang đánh nước ta.
     Tháng 7 năm 1858, Trung tướng Pháp là Rigault de Genouilly đem tàu Pháp và tàu Tây ban nha cả thảy 14 chiếc vào cửa Ðà Nẵng bắn phá rồi hạ thành An hải và thành Tôn hải. Theo dự trù, trung tướng Rigault de Genouilly tính tiến đánh Huế sau khi hạ Ðà Nẵng nhưng chờ hoài mà chẳng thấy tín đồ Thiên Chúa giáo nổi loạn lại thấy quân ta đổ xuống ngày càng đông, quân Pháp lại không quen khí hậu nên ngã bệnh cũng nhiều. Trung tướng Rigault de Genouilly gây lộn với Giám mục Pellerin và viết thư về Pháp kể tình hình, Giám mục Pellerin giận bỏ về Mã Lai. Thấy đánh Huế chưa nổi, ông trung tướng Pháp đổi ý, quay qua đánh Gia Ðịnh vì là nơi dể lấy hơn và là vùng trù phú hơn.
      Ðầu năm sau trung tướng Rigault de Genouilly dẩn quân Pháp và Tây ban nha vào cửa Cần Giờ, đánh thành Gia Ðịnh, chỉ trong 2 ngày thì thành vở. Quan hộ-đốc Vũ Duy Ninh tự vận. Quân Pháp san phẳng thành trì làm bình địa. Xong trung tướng Pháp lại đem quân trở ra Ðà Nẵng đánh một trận ở đồn Phúc Ninh, quân ông Nguyễn Tri Phương thua phải rút về giữ đồn Nại-hiên và đồn Liên-trì. Trung tướng Rigault de Genouilly cũng bệnh nên xin về Pháp nghĩ, thiếu tướng Page sang thay, ông đề nghị việc giảng hoà, cốt chỉ xin được tự do giảng đạo Thiên Chúa và được buôn bán với nước ta nhưng triều đình Huế lúc đó chỉ còn những ông quan già, chỉ biết đạo Nho thà chết để giữ nước, không chịu nhục, không phải là người biết mềm mỏng trong vấn đề ngoại giao nên Vua cũng phải nghe theo.
    Ðến năm 1862 thì quân Pháp đã chiếm luôn Biên Hoà và Vĩnh Long. Triều đình mới chịu phái hai ông Phan Thanh Giản và ông Lâm Duy Tiếp vào Nam giảng hoà với Pháp ngày 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1862).
Trong bản hoà ước ấy (12 khoản) có những khoản như sau :
- Nước Việt Nam phải để cho giáo sĩ Thiên Chúa Giáo nước Pháp và nước Tây ban nha được tự do giảng đạo và để dân gian được tự do theo đạo.
- Nước Việt Nam phải nhượng đứt cho nước Pháp tỉnh Biên Hoà, tỉnh Gia Ðịnh và tỉnh Ðịnh Tường và phải để cho chiến thuyền của Pháp ra vào tự do ở sông Mékong (Cửu Long).
Vua Tự Ðức bắt buộc phải nhường 3 tỉnh Nam kỳ cho Pháp nhưng trong bụng vẫn muốn lấy lại vì là đất khai nghiệp của nhà Nguyễn nên đã phái ông Phan Thanh Giản, ông Phạm phú Thứ và ông Ngụy Khắc Ðản đem phẩm vật sang nước Pháp và  Tây ban nha để xin chuộc lại 3 tỉnh miền Nam. Vua Pháp hẹn sẽ suy nghĩ lại rồi trả lời sau, nhưng ông bộ trưởng hải quân và thuộc địa Pháp Chasseloup-Laubat không chịu trả đất cho Việt Nam nên nói ra, vua Pháp nghe lời.
    Triều đình Huế cũng nghĩ là Pháp sẽ không ngừng ở đó nên sai ông Phan Thanh Giản vào trấn giữ Miền Nam. Năm Tự Ðức thứ 20 (1867), thiếu tướng De la Grandière kéo quân đánh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Ông Phan Thanh Giản biết thế chống không nổi nên bảo các quan nộp thành trì cho đở đổ máu rồi uống thuốc độc tự vận. Từ đó đất Nam Kỳ thuộc về Pháp, thuế má, luật lệ điều gì cũng do Pháp quyết định cả. Nước Pháp tạm ngừng cuộc chinh phục tại đây.
   Quân Pháp lấy Bắc kỳ lần thứ nhất : 6 năm sau, ở miền Bắc có ông Jean Dupuis  chuyên buôn bán vũ khí, ông ta tìm đường sông để chở hàng qua Tàu và kiếm ra đường sông Hồng nhưng bị quân triều đình làm khó dể vì ông ta không có giấy phép. Jean Dupuis ngạo mạn kiếm chuyện gây gổ với triều đình rồi sai người phụ tá tên Millot vào Saigon tìm gặp viên Thống đốc Nam kỳ là Thiếu tướng hải quân Dupré để kể tình hình và xin trợ giúp. Thiếu tướng Dupré là người đã đễ ý tới vùng Bắc kỳ từ lâu, ông đã viết thư về Paris xin lấy luôn đất Bắc kỳ nhưng bên Pháp lúc bấy giờ đang yếu vì chiến tranh với nước Thổ nên ra lệnh không được gây sự ở Bắc kỳ. Khi được Millot đến đốc thúc thì ông Dupré quyết định hành động, ông viết thư cho Paris nói là xin được tự quyết định, ông không cần viện trợ, nếu chuyện không thành thì ông sẽ lãnh hết trách nhiệm.
    Dupré sai Trung úy hải quân Françis Garnier đem quân ra Hà Nội giả nói là để giải quyết chuyện xích mích của Jean Dupuis rồi kiếm chuyện để bắn vào thành Hà Nội sáng hôm rằm năm Quí Dậu (1873). Chỉ một giờ thì thành vỡ, tướng Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, Pháp bắt tính giải về Saigon nhưng Nguyễn Tri Phương không cho băng bó và nhịn ăn chết. Thành Hà Nội thất thủ, quân ta không hiểu chuyện gì hết nên cứ thấy quân Pháp là bỏ chạy, chỉ trong 20 ngày mà mất 4 tỉnh.
    Lúc bấy giờ có tướng ngươì Hoa là Lưu Vĩnh Phúc đầu đảng của "giặc cờ đen" về hàng triều đình Huế, vua Tự Ðức phong cho chức Ðề đốc để phụ đánh quân Pháp. Lưu Vĩnh Phúc đem quân về đánh thành Hà Nội. Françis Garnier đem quân ra nghênh thì bị phục kích chết ở cầu Giấy. Paris biết chuyện nên triệu Thiếu tướng Dupré về Pháp trị tội, Thiếu tướng Dupré tìm cách đỡ tội nên trở mặt, sai ông Ðại úy hải quân Philastre ra Hà Nội để trả lại thành và 4 tỉnh bị chiếm. Hai bên ký hoà ước năm Giáp Tuất (1874) trong đó triều đình Huế công nhận cả miền Nam là thuộc về Pháp và Pháp cũng bồi thường lại cho Việt Nam bằng tàu bè và súng ống.
Quân Pháp lấy Bắc kỳ lần thứ hai : Năm 1881, có hai người Pháp tên là Courtin và Villeroi được giấy thông hành đi lên Vân Nam (bên Tàu) nhưng khi đi đến Lào cai  thì bị loạn quân cản trở không đi được, viên Thống đốc Le Myre de Vilers bèn gởi thư về Pháp nói rằng nên chiếm luôn Bắc kỳ để bảo đảm sự lưu thông buôn bán với Tàu. Lúc đó nước Pháp đã hồi phục lại sinh lực nên cũng có ý bành trướng ở Nam Á. Năm 1882, Thống đốc một mặt gởi thư cho triều đình ta nói là Vua bất lực, đất nước loạn ly, Pháp phải trấn an đất Bắc để bảo vệ quyền lợi của dân Pháp, một mặt gởi Ðại tá hải quân Henri Rivière ra Hà Nội, gởi tối hậu thư cho quan Tổng Ðốc Hoàng Diệu bắt phải hàng. Ðúng 8 giờ sáng thì quân Pháp tấn công, 11 giờ thành đổ, ông Hoàng Diệu treo cổ tự tử.
Viên Khâm sai Pháp ở Huế là Rheinart sang thương thuyết, trong đó đòi nước Nam phải nhận nước Pháp bảo hộ và nhường thành thị Hà Nội cho Pháp. Nhiều người trong Triều đình nói rằng : "Nước ta trong còn Lưu Vĩnh Phúc, ngoài còn nước Tàu, lẽ nào bó tay mà chịu" nên từ chối. Sau đó Triều đình cho người sang cầu cứu với nước Tàu, Triều đình nhà Thanh được dịp bèn gởi quân qua đóng hết các tỉnh Bắc Ninh và Sơn Tây. Quân Pháp thấy quân Tàu tràn qua biên giới nên cũng xua quân đánh luôn. Ðại tá Henri Rivière cũng bị quân cờ đen giết tại cầu Giấy
Ðúng lúc nầy thì vua Tự Ðức mất ngày 16 tháng 6 năm Quí-Mùi (1883) trị vì 36 năm, thọ 55 tuổi.
Vua Tự Ðức vì lúc nhỏ bị bệnh đậu mùa nên lớn không có con, nên vua có xin 3 người con trai của 2 người em làm con nuôi.
Vua nhường ngôi lại cho con trưởng Ưng Chân, phong 3 ông đại thần Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tuờng và Tôn Thất Thuyết làm phụ chính để giúp tân Vương. Thảm kịch bắt đầu từ mấy câu di chiếu của Vua Tự Ðức viết về đạo đức và trách nhiệm của Ưng Chân:
"Vì tiên liệu Trẫm đã nuôi sẵn ba con. Ưng Chân lớn tuổi nhất, từ lâu đã đến tuổi trưởng thành, tuy nhiên mắt hơi có tật, dù xưa nay vẫn dấu kín, sợ sau nầy không còn thấy sáng, tánh lại hiếu dâm, vì tâm tính rất xấu, không chắc đảm đương nổi việc lớn. Nhưng đất nước cần có vua lớn tuổi. Trong thời thế khó khăn nầy không dùng Ưng Chân thì dùng ai ? ..."
Các quan Phụ chính Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết dâng sớ lên vua Tự Ðức xin bỏ mấy đoạn có liên quang đến tính nết xấu của tự quân và xin bỏ câu “không chắc đảm đương nổi việc lớn” nhưng vua Tự Ðức từ chối. Nhà vua bảo:
-Phải giữ lại câu đó để nhắc người kế vị phải tự răn mình, tu tỉnh.
Ngày 17-7-1883, vua Tự Ðức băng hà tại điện Càn Thành. Theo di chiếu Hoàng tử Ưng Chân vào chịu tang và coi như là vua kế vị, niên hiệu là Dục Ðức.
Ba ngày sau (20-7-1883) là lễ đăng quang của vua Dục Ðức tại điện Thái Hoà. Quan Phụ chính Trần Tiễn Thành đứng ra đọc Di chiếu, tới đoạn nói về tật xấu của vua, ông hạ giọng đọc rất thấp (có sách nói là không đọc) thì lúc bấy giờ quan Phụ chính Nguyễn Văn Tường nhảy ra nắm áo ông và nói lớn :
-Tại sao ông không đọc đoạn tiên đế nói đến những gì Ngài nghĩ về Ưng Chân ?
Xong ông Tường cho người khác ra đọc lại di chiếu, đọc vừa xong cái đoạn nói về thói hư tật xấu của vua Dục Ðức thì ông Tôn Thất Thuyết cắt ngang lời người đọc và nói :
-Ðây là đoạn mà ông Thành đã không chịu đọc, phải xin ngưng buổi lễ để xin ý kiến của Thái Hậu và đình thần xem thử phải làm gì !
Ðược bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ bật đèn xanh, hai ông Phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết liền truất ngôi của vua Dục Ðức và quản thúc ông ngay tại Dục Ðức đường. Nhà học của ông bỗng trở thành nhà tù giam. Ông Dục Ðức làm vua chỉ vỏn vẹn có 3 ngày. Sau đó ông bị chuyển qua giam tại Thái Y Viện và cuối cùng chết vì đói và khát tại Ngục Thất Thừa Thiên để lại 8 bà vợ, 11 người con trai và 8 người con gái. (Vua Dục Ðức là cha của vua Thành Thái và là ông nội của Vua Duy Tân sau naỳ).
Quan Ngự Sử Phan Ðình Phùng có lên tiếng can ngăn liền bị bắt giam rồi bị cách chức đuổi về quê.
Ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tôn em của vua Tự Ðức là Lạng Quốc Công, tên là Hường Dật, lên làm vua, đặt niên hiệu là Hiệp Hoà.
Vua Hiệp Hoà thấy hai ông đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lộng hành quá bèn tìm cách loại trừ bằng cách thay đổi chức tước của hai ông cho bớt binh quyền. Hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết biết là vua không tin dùng mình nên liền âm mưu lập ông Dưỡng Thiện là con nuôi thứ ba của vua Tự Ðức lên làm vua rồi bắt ép vua Hiệp Hoà uống thuốc độc chết. Vua Hiệp Hoà chỉ làm vua được hơn 4 tháng.
Ông phụ chính Trần Tiễn Thành ra tiếng phản đối nên bị hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết ra lệnh giết luôn.
Trong lúc đó thì Pháp vẫn tiếp tục chiếm các tỉnh của Việt Nam (cửa Thuận An, thành Hải Dương, ...), Triều đình Huế thất thế xin hoà. Hoà ước Quí Mùi (1883) ra đời trong đó nước Nam chịu nước Pháp bảo hộ và phải nhường một số đất cho Pháp. Triều đình ta có ra lệnh ngừng đánh, phải rút quân về Huế nhưng một mặt quân đội Tàu không nghe lệnh Triều đình Huế, một mặt còn nhiều người yêu nước và ỷ lại Tàu nên có nhiều người không chịu rút quân mà vẩn đánh Pháp, do đó chiến tranh với Pháp vẫn tiếp diển, Triều đình Huế bất lực.
Ông Dưỡng Thiện, tên là Ưng Ðăng là con nuôi thứ ba của vua Tự Ðức lên ngôi vua lấy niên hiệu là Kiến Phúc. Vua chỉ có 15 tuổi, mọi việc đều do ông Tường và ông Thuyết quyết định cả.
Có nhiều ông quan thấy vậy liền trả ấn lại cho triều đình, từ quan rồi đi chiêu mộ binh mà đánh Tây.
Sau khi ký hiệp ước Quí Mùi với nước ta, quan Toàn quyền Harmand ra Bắc kỳ để sửa sang sự cai trị, lập ra đội lính tuần cảnh, tục gọi là lính "khố xanh" và bãi đội lính cờ vàng mà Thiếu tướng Bouet đã mộ được. Quân Pháp tiến chiếm Sơn Tây, Bắc Ninh, Ðáp cầu, Hưng Hóa, Tuyên Quang, ...
Vì biết nước Tàu quá đông nên Pháp cũng muốn làm hoà, chính phủ Pháp sai Trung tá Fournier lên Thiên Tân để nghị hoà với Tổng đốc Tàu Lý Hồng Chương. Hai bên ký hoà ước Fournier năm Giáp Thân (1884) trong đó Tàu chấp nhận là Pháp bảo hộ nước Việt Nam.
Nước Pháp có sai ông Công sứ Patenôtre từ Tàu sang Huế để sửa lại tờ hoà ước của ông Harmand đã ký ngày 23 tháng 7 năm Quí Mùi (1883), rồi đến ngày 13 tháng 5 năm 1884 Dương lịch, ông Patenôtre cùng với ông Nguyễn Văn Tường, ông Phạm Thận Duật và ông Tôn thất Phan ký tờ hoà ước mới (hoà ước Patenôtre), trong đó Triều đình Huế chấp nhận sự bảo hộ của Pháp và chia nước ra làm 2 khu vực là Trung kỳ và Bắc kỳ, trên giấy tờ thì mổi kỳ có một cách cai trị khác nhau (Trung kỳ bảo trợ chứ không phải bảo hộ) nhưng trên thực tế thì từ từ Pháp bảo hộ tất cả, Triều đình Huế chỉ là hư vị mà thôi. Pháp bắt Việt Nam phải trả cái ấn của Tàu phong cho vua Việt Nam nhưng ông Nguyễn Văn Tường thương lượng để đem cái ấn đó ra mà nấu chảy.
   Như vậy, sau khi vua Thiêụ trị mất dòng tộc họ Nguyễn không còn ngừơi có tài đức, huynh đệ lục đục, thậm chí vua Tự Đức bị tuyệt tự không con để truyền ngôi, các Quan Đại thần chia bè phaí lấn lướt quyền lực cuả vua, các vua lên ngôi lúc còn là trẻ con chưa hết chơi trò nghịch ngợm lâý gì mà lo việc nước.
      Cái họa mất nưóc đã được báo trước giờ đã thành hiện thực, khiến cho nhân dân trăm họ oán  trách Triều đình nhu nhược. Mặc dù vua Duy tân và vua Hàm nghi sau này có phát động kháng chiến chống Pháp nhưng chỉ mang tính tự phát, yêú ớt và không còn thời cơ nữa nên nhanh chóng bị thực dân Pháp đè bẹp. Đời vua cuối cùng cuả họ Nguyễn là Bảo đại thì vô tích sự, ăn chơi phá phách không ra thể thống gì nữa. Đất nước Việt nam chìm trong đói khổ lầm than, nạn đói năm Ất dậu 1945 làm hơn 2 triệu người bị chết là giới hạn cuối cùng sức chịu đựng của dân tộc có truyền thống 4000 năm quật cường bất khuất chống giặc ngoại xâm. Phong trào Việt minh dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản chớp đúng thời cơ phát động Cách mạng và đã giành được thắng lợi. Ngày 30 tháng 8 năm 1945 trước Ngọ môn của kinh thành Phú xuân, vua Bảo Đại trao Ấn Kiếm cho đaị diện của Việt minh xin thoái vị, chấm dứt Triều đại phong kiến nhà Nguyễn. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba đình, Hà nội, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn khai sinh nước Việt nam dân chủ cộng hòa có thủ đô là Thăng long Hà nội và kinh thành Huế trở thành cố đô để rồi bắt đầu bị bỏ rơi thành hoang phế.
   Đất nước đã được Độc lập nhưng chưa có thống nhất, hòa bình. Cuộc chiến gian khổ kéo dài 30 năm chống ngoại xâm cuả dân tộc Việt đòi hỏi sự đồng lòng, đồng hướng,chi phối tất cả những quan điểm nghiên cưú Lịch sử là điều không thể tránh khỏi. Lối đánh giá „ vơ đũa cả nắm“ đã đẩy các  đời chúa Nguyễn và vua Nguyễn vào một tôị chung bán nước phản động trong các sách giáo khoa Lịch sử khiến cho dòng tộc Nguyễn Phúc bị hắt hủi nhục mạ, dân cố đô cảm thấy bất bình.
  Nói đến đây ông Kim trở nên mệt mỏi, trầm lắng hơn. Hương Giang bèn đứng lên lấy một chiếc khăn sạch rồi đi ra mạn thuyền thấm ướt trong một chiếc thùng nước đặt khoang ngoài, cô quay vào kính cẩn đưa cho cha. Ông Kim lau mồ hôi rịn ướt trên trán minh, rồi thủ thỉ với Huy Đông như một người cha dặn bảo con trai:
-         Đông ạ ! Cháu thuộc vào thế hệ thanh niên được sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, cháu được học hành và rèn luyện trong môi trường hoàn toàn khác vơí chú, cháu đã từng phục vụ trong quân đội Cách mạng. Quan điểm đánh giá xã hôị cũng như lịch sử Việt nam thời cận đại nói chung và Triều Nguyễn nói riêng khác với chú là chuyện tất nhiên. Nhưng trách nhiệm phục vụ cho sự trường tồn của dân tộc Việt thì không bao giờ khác được. Nhiệm vụ truyền đời mà tổ tiên cháu và tổ tiên cuả chú cùng thề nguyện hoàn thành khiến chú cháu ta và cả Hương Giang nữa trở nên thân thiết hơn trước bàn thờ của Tổ quốc. Sứ mạng của chúng ta sẽ trở nên nguy hiểm nếu chúng ta không thận trọng và tin tưởng lẫn nhau. Có thể cháu và con cháu của cháu không tin vào truyền thuyết của chúng ta vì nó trái ngược với tư duy duy vật chính thống hiện nay, nhưng cháu phải tin rằng linh khí của dân tộc là hoàn toàn có thật và linh khí thiêng liêng đó có trong mỗi trái tim, tâm hồn của mỗi người Việt chúng ta, là côị nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt qua bao thăng trầm để ngẩng cao đầu tiến đến tương lai. Và, chính niềm tin đó khiến cho chú cháu ta gặp nhau hôm nay như là một định mệnh.
Huy Đông ngồi lặng im, trái tim anh như thắt lại với một cảm xúc dâng lên mạnh mẽ. Bên cạnh anh, Hương Giang mắt dõi xa mặt nước gợn sóng của dòng sông, nắng vàng cuả hoàng hôn tĩnh mịch tôn lên nét thanh tú của một cô gái Huế xinh đẹp, đoan trang. Huy Đông chợt nhận thấy cuộc sống  của mình giờ đây đã chuyển sang trang mới đầy ý nghĩa, và cô gái xinh đẹp tuyệt vời này là một phần quan trọng trong đó. Anh đã yêu Hương Giang và mong rằng cô cũng có quí mến anh, số phận đã đâỷ hai người vào một lối đi chung như một định mệnh không thể cưỡng lại được. Hương Giang là dòng sông quê hương và cũng là tên của người con gái anh mong ước được gắn bó suốt đời, mặc dù hơn ai hết anh biết rằng trong tình cảnh hiện nay, mong ước đó là xa vời, vì cô đang là công dân của một đất nước xa xôi, lại sống giữa thủ đô Paris hoa lệ và anh chỉ có thể sang thăm người anh yêu trong giấc mơ của một giáo viên nghèo ở Việt nam mà thôi.
-         Huy Đông, vài ngày nữa hai ba con chú trở về Paris. Công việc của một giáo sư Đại học đang chờ chú bên đó, Hương Giang cũng phải trở lại giảng đường chuẩn bị cho kì thi cuôí học kì của một sinh viên y khoa. Cháu cũng phải trở ra Hà nội. Chúng ta tạm thời chia tay nhau, nhưng chú sẽ cố gắng thường xuyên liên lạc với cháu qua thư vì hiện nay ở Việt nam chưa có điện thoại cho các gia đình bình thường. Nhiệm vụ của cháu bây giờ là phải học hành thành đạt, gắng lấy được bằng Tiến sĩ. Cháu phải luôn luôn thận trong, khôn ngoan trong cuộc sống, tuyệt đối không được hành động khi chưa có thời cơ chín muồi. Chú khẳng định rằng thời cơ đó không còn xa nữa, nên cháu cũng phải hiểu rằng, thời cơ chỉ có giá trị cho những ai đang sẵn sàng nắm bắt thời cơ mà thôi.
-         Dạ cháu hiểu, mong chú yên tâm vì giờ đây cháu không còn sống và làm việc chỉ cho riêng cháu nữa, và cháu không còn đơn độc trong hành trình đi tìm chân lí, công bằng và hạnh phúc như ba cháu trước đây nữa đâu. Đến một lúc nào đó  ở Việt nam ta sẽ không còn sự bưng bít, trói buộc như bây giờ , hội nhập toàn cầu, phá bỏ chiến tranh lạnh sẽ là tất yếu. Không ai có quyền bắt dân tộc Việt  đi ngưọc xu thế thời đại, sống trong ngheò nàn và lạc hậu mãi mãi được đâu chú ạ.
 Chiếc thuyền đang rẽ vào sông An cựu, rẽ sóng ngược lên bến Ngự. Huế trong hoàng hôn lãng bãng ráng chiều hắt về sau dãy núi phía tây. Cuộc  mưu sinh căng nén ban ngày đang từ từ giãn dần trở về trạng thái lịch lãm của một đêm Huế hoàng cung.
Huy Đông tạm biệt với hai cha con chú Kim. Bàn tay Hương Giang dịu dàng ngoan ngoãn trong tay anh, chỉ mấy giây thôi nhưng Đông thầm hiểu cô đã chấp nhận tình cảm của anh. Hạnh phúc ngập ứ trái tim trai tráng, anh lưu luyến dõi theo chiếc thuyền  mang theo ánh mắt tha thiết của người con gái anh yêu dần dần khuất trong bóng cô tịch của chiều sông Hương.