Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

Chân trời định mệnh 3

                                        Chương 8
                                         Số phận
                               Paris và người xa xứ
    Ông Đông gặp lại bạn cũ trong một trường hợp bất ngờ ngay tai thủ đô Paris này. Đó là mọt buổi tối mùa đông, một thứ Bảy cuối năm, Khu phố của  người châu Á ở Quận 13 đông nườm nượp người đi mua sắm chuẩn bị cho những lễ lạt mưng Giáng sinh và đón chào năm mới. Các dãy phố nháp nháy hang vạn ngon đèn điện treo trên các tán cây dọc vĩa hè hoăc trên các day chăng ngang qua tao nhiều biêu tượng Noel. Người ta đứng chờ trong các cửa hàng, trên vỉa hè ướt lép nhép và ngồi kiên nhẫn trong các hàng dài otô không thể tìm được chỗ đỗ xe giữa thành vốn thương nhật đã khó rất khó khăn trong việc đỗ một chiếc xe mà không mất 10 đến 15 phút chạy lòng vòng. Xe của dân Paris chánh hiệu thường không tránh khỏi việc bị chầy xước hoặc móp méo vì va chạm trong việc váo chỗ đỗ cực kì chật hẹp. Biết là như vậy nên ông Đông sau khi để Hương Giang xuống trứơc cửa chợ Paris Store liền chạy xe về hướng Place de Italy rồi rẽ vào một phố nhỏ giữa nhưng khu nhà chung cư vắng khách bộ hành. Đang chạy xe chầm chậm theo nhưng đường phố vốn đã nhỏ hẹp lại càng nhỏ hẹp hơn vì cả hai bên đường xếp kín các kiểu xe chen chúc, cho xe quòanh theo một khúc ngoặt ông Đông bỗng phanh xe dúi cả người về trước vì xuýt đâm vào  một nhóm người đứng ngay giữa đường. Đinh thần nhìn kĩ ông Đông nhận ra có một người gốc Á đang đứng kẹt giữa hai người da đen vói bộ điệu thủ thế dương như đang tìm cách thoát thân vì trên tay của một trong hai thanh niên gốc Phi lấp loáng ánh thép của một con dao bấm cỡ lớn. Ánh đèn xe chiếu sáng và sự xuất hiện đọt ngột của chiếc otô làm cả ba ngứơi chứng lại và cùng nhìn về phía ông Đông, người á châu chợt tỉnh trí nhảy 1 bước về  phía chiếc xe sau khi đưa tay phải đánh dứ một cú chặt vào mặt tên da den chắn lối. Ông ta hét to cầu cứu mặc dù không biết người trong xe là ai vi ánh đèn xe làm choá mắt:
-         Hilfe ! Hilfe !
Khéo léo giấu con dao vào túi quần rông thùng thình, tên da đen cao lớn bặm trợn đưổi theo cố giành lấy chiếc cặp Samsonai trong tay đối thủ nhỏ bé, khi hắn chạm được tay vào tay cầm của chiếc cặp, thân hình hắn cúi thấp xuống là lúc cằm hắn hứng trọn một cú đá vòng ngoặt chân của ngưới đàn ông. Tiếng gót giầy gây một tiếng khô khốc kèm theo một tiếng „bốp“ do địch thủ của hắn vừa đặt chân cham đất đã theo đà lăng  vòng tay đánh tiếp vào hông hắn góc đáy của chiếc cặp nhựa cứng. Đòn đánh hợp lực vung tay kết hợp lắc hông thật khủng khiếp làm tên da den cao lớn sụp xuống hét rống lên vì đau đớn, xương sườn của hắn chắc gãy mất vì cú đánh.
   Tên thứ hai vội lao đến khi người đàn ông mất đà loạng choạng, hắn đổ người đề dúi đối thủ nhưng ông ta cũng nhận ra tình thế nguy hiểm liến theo lật người lộn một vòng tren mặt đường ướt nước mưa và chiếc cặp cũng vì thế mà tuột khỏi tay văng ra . Tên cướp chộp đựoc món đồ mà hắn chủ ý lấy liền chạy đến định dìu đồng bon chạy trốn. Nhưng hắn không ngờ là ông Đông đã ra khỏi xe và quát to:
-         Stop!
Tên cướp định co chân tháo chạy bỏ mặc đồng bọn nhưng không kịp vì ông Đông đã kịp áp sát  chắn ngang đường tháo lui của hăn. Đảo mắt về phía ngưới đàn ông Á châu lúc này đã đứng dậy được. hắn liều lĩnh ôm chiếc cặp quí giá húc đầu vào Ông Đông mở đường, chắc hắn cho đối thủ này không có bản lĩnh lợi hại như người kia. Với đối thủ có chiến thuật „bò húc“ ông Đông không cần đối đầu mà chỉ  bước lùi chân trái, đúng lúc cái đầu trọc đen nhánh hôi hám vừa trờ đến ông Đông liền khuỵu chân trụ phải hạ thấp người vòng một vòng nhỏ bả vai phải tống xuông một đòn cùi chõ vào đúng gáy của đối thủ. Tên cướp theo đà đập chúi mặt xuống mắt đường. Chẳng chờ xem phản ứng của đối thủ  sau khi ăn đòn ra sao, ông Đông chộp vội lấy chiếc cặp lúc nay bật văng bên cạnh, ông chạy đến bên ngưới đàn ông châu Á:
-         Vietnammien ?
-         Ja!
-         Lên xe mau ! Đi khỏi đây ngay!
Ông Đông lùi xe một đoạn đến lối rẽ đầu tiên lền tăng tốc chạy về hướng ngược về Ivry.Sau khi rẽ đột ngột nhiếu lần không có đấu hiệu có xe bám theo, ông liền đỗ lại và kéo ngưới đồng hương vào một quán càfe bên đường. Hai người tìm một vị trí kín đáo nhưng tiện quan sát chiếc xe của mình, xem có kẻ nào đến bên nó không. Ông biết rằng bị ăn đòn nặng như vậy hai tên du thủ liều lĩnh kia không còn hồn vía nào mà đuổi theo họ, nhưng dù sao cẩn thận vẫn hơn vi biết đâu chung là băng nhóm có tổ chức.
-         Cám ơn ông rất nhiều, không có ông chắc tôi khó mà thoát được chung nó. May quá mất   thôi !
-         Bây giờ thì ông kể cho tôi nghe vi sao lại xẩy ra nông nổi như vậy ?
-         Tôi là Lê Trung Lương, tôi ở bên Đức đến đây cùng một số người bạn từ trong nước sang.
-         Khoan ! Ông tên là Lê … Lê Trung Lương ?
-         Vâng ! Thì sao ?
-         Trước đây tôi cũng có một người bạn học từ thửa nhỏ cũng tên là Lê Trung Lương ở Quảng bình …
-         Thì tôi cũng có thời nhỏ ở Quảng binh đây, Vậy ông tên gì ? A mà khoan! thôi chết rồi ông là … Ôi tao nhân ra rồi ! mày là thằng Lê Huy Đông lớp 10 A. Trời ơi, thật là kì lạ !
-         Đúng là thằng Lương 10B rồi. Hơn 30 năm rồi chứ có ít gì nữa đâu, không thể nhân ra được thằng Lương „còi“ ngay xưa nữa.
-         Mà mày cũng còn như xưa nữa đâu, đầu đã hói hết rồi kìa …
-         Thôi kể cho tao chuyện gì đã xảy ra đã để còn kịp đối phó với  bọn cươp da đen đó
-         Nào có gì đặc biệt đâu! Hôm nay mình đi cung với mấy người bạn sang thăm Paris, hiện giờ họ đang ở trong khách sạn Majetic trên đường Ivry. Trong phố không còn chỗ đỗ xe nên mình phải long vòng mãi mới tìm được chỗ trống, chiếc cặp Samsonai của một anh trong đoàn để trên xe nhờ mang về hộ mình mang theo về, không ngờ bọn đen  thấy mình đi một mình nên nổi long tham đuổi theo để cướp. Mình đang tìm cách kéo dài thờ gian để tìm cách đối phó thì cậu đến. Mà cũng may mắn, thời kì trong quân đội là lính trinh sát nên mình cũng không đến nỗi chịu chết trong tình huống như vậy.
-         Thì cậu đánh cũng khá lắm đấy chứ
-         Thật ra thì mình cũng còn nhẹ tay, chứ nếu góc của chiếc cặp này mà đánh trúng thái dương thằng quỉ sứ đó thì chắc là nó khó thoát chết. Dù sao thì nó không phải là kẻ thù như trong cuộc chiến tranh ở Vị xuyên chống Trung quốc, phải 1 mất một còn.
-         Ông Đông an ủi bạn:
-         Nếu vậy thì không đáng ngại lắm, hai thằng này chỉ là tụi cơ hội, chắc không còn hồn vía nào để tìm chúng mình nữa sau khi ăn đòn đích đáng như vậy. Nhưng cậu cũng mất cảnh giác lắm. Cậu phải nhớ rằng đây là Paris chứ không phải ở bên Tây Đức, không bao giờ được phép tạo cho kẻ xấu có cơ hội.Tụi Rệp đen ở đây nhiều lắm, lại hay đua đòi tệ hút xách, thiếu tiền là làm liều thôi, nhà nước Pháp nhiều khi còn lúng túng trong việc này đấy thôi.
-          Hai người ban kẻ vắn tắt cho nhau về cưộc đời của mình.
Sau cuộc gặp bất ngờ đó cho đến nay, họ thường xuyên liên lac với nhau và mỗi khi ông Đông sang Pháp thì ông Lương lại thu xếp công việc để sang hàn huyên với bạn hoặc sang Paris đón bạn về nhà mình ở một thành phố nhỏ gần Stuttgart như là một chuyến đi nghỉ sau những lúc bận rộn. Kỉ niệm thời thơ ấu công với hoàn cảnh sống của trí thức xa xứ làm cho ông Lương rất khát khao những cuộc hàn huyên với ông Đông. Sau mỗi lần gặp bạn thì  ông lai có thêm nghị lực để thấy cuộc đời mình tươi sáng hơn, gần gũi với quê hương hơn.
         Cửa hàng thời trang cao cấp Luis Vuitton là toà nhà to số 101 Avenue des Champs Elyesees, cách không xa cổng khải hoàn Arc de Triomphe đứng sừng sững giữa quảng trường Place Charles de Gaulle,  đang giờ đông khách. Lê lững thững đi giữa nhưng khách hàng sang trọng, phần lớn trong số họ là những người trẻ tuổi, những thanh nam và tú nữ trẻ trung, đầy tự tin.Tự tin từ giáng đi, giọng nói cho đến cách chi trả hào phóng khi mua các vật dụng đắt tiền bằng những chiếc thẻ tín dụng nhiều màu sắc khác nhau đặc trưng của những ngân hàng quốc tế. Đáng ngac nhiên là phần đông những thanh niên giàu có này là người châu Á, do đó Lê không khó khăn gì khi thấy số lượng nhân viên bán hàng ở cửa hàng này cũng như  ở nhiều cửa hàng thời trang khác trên đại lộ nổi tiếng thế giới này phần đông cũng là nhưng người gốc Á. Tuy nhiên, Lê chưa gặp một chàng trai hay cô gái nào trong số họ khi tiếp khach nói bằng tiếng Việt, ngôn ngữ của Tổ quốc anh. Lê tự hỏi, thực tế đó làm cho mình nên buồn hay vui đây ? Buồn là lẽ thương tinh xuất phát từ tâm thức ngươi Việt xa hương  luôn mong ước về sự đánh giá cao của giới kinh doang hang cao cấp ở Paris  về thị phần khách hàng giàu có tiền bạc, sành điệu về ăn mặc, của người Việt nam trong  thế giới tiêu dùng. Nhưg tự đáy lòng trắc ẩn, Lê lại rất sợ những người đồng hương xài sang ở thủ đô ánh sáng này, họ đại diện cho ai và họ nghĩ gì khi phung phí những món tiền lớn, phải nói là cực lớn, so với đông lương thu nhập ít ỏi của đa số người dân lao đông ở đất nước nghèo khó của anh và họ. Lê lắc đầu tự chế nhạo mình, mình thật là vớ vẩn, chuyện thường tình là vậy mà, bận tâm làm gì.
   Có lẽ những người bảo vệ nét măt lanh lùng ở đay đã quá quen với sự có mặt  của Lê từ hai ngày nay, mà không chỉ ơ đây, cả ở  cửa hàng Cartier và Lacos cũng vậy. Nhưng họ đâu có biết rằng, tuy ăn mặc đàng hoàng, khoan thai dạo đi  giữa nhũng gian hàng lộng lẫy nhưng thực chât lúc này trong ví của Lê không còn đủ tiền để mua một chiếc thắt lưng có in hai chữ LV bắt chéo nhau. Sự có mặt của anh lần này cũng như lần vừa cách đây khoảng chừng một tháng, chỉ là kẻ được mời đi chơi cùng, lái xe và xách hàng giùm cho các bạn anh, những người đồng hương từ trong nước ra, những thương nhân giau có và sành điệu. Đến  Paris, phẩn lớn thời gian họ chỉ lang thang trên đại lộ đẹp nhất thế giới này và cũng chỉ chủ yếu là lùng sục trong các cửa hàng thơi trang và kính đeo mắt cao cấp này mà thôi. Số tiền chi ra khá thoải mái, vô tư của họ làm cho Lê hoa cả mắt lên. Đã không ít lần, anh thầm nghĩ tổng số tiền cho một số trừong tiểu hoc vùng nông thôn nào đó ở quê hương anh ,và tất nhiên là cả của họ, cả năm học chắc cũng chưa bằng số tiền trả cho những mặt hàng túi xách,ví tiền, giày hiệu LV, kính mat hiệu Cartỉe, áo quần hiệu Lacos, đồng hồ Rolex, mĩ phẩm Sephora …mà anh đang xách lỉnh kỉnh trên tạy. Hiện thực trớ trêu và lạnh lùng, con ngươi dù chọn con đương nào đi chăng nữa cho sự phat triển xã hội cũng không bao giờ thoát khỏi phân chia đẳng cấp, phân chia năng lực đóng góp và thụ hưởng để rồi giàu nghèo là thước đo cho sự thành đạt của con người. Công bằng nhiều khi không đồng thuận với bình đẳng. Trong trường đua cuộc đời, khoảng cách giàu nghèo, sang hen giưa các con ngươi cụ thể không bao giờ xoá đươc, bình đẳng tuyệt đối chỉ là ước mơ không hàm chứa công bằng vì không thể cào bằng năng lực cá nhân, trong chừng mực nào đó nò làm nẩy sinh chinh sự  bóc lột của kẻ lười biếng giương cao chủ nghĩa bình quân. Phải chăng chính tính di truyền tính trang trong nhân của từng tế bào sinh vật đã truyền đi thông điệp năng lực kiếm tiền ở con người, truyền lại tư thế này sang thế hệ khác sự bất bình đẳng về ưu thế quyền năng trong xã hội đa dang đày biên động này. Trong chừng mực nào đó, thủ tiêu được sự bất bình bẳng trong quyền lơi trên phạm vi toàn xã hội, sẽ làm mất đi tính đa dang và động lực phát triển của xã hội đó sẽ không còn nữa.
Trong khi cố lạng lách chiếc Mersedes ML  cồng kềnh giữa dòng xe các loại chạy rất lộn xộn để vòng quanh quảng trường Place de La Concorde về phố thời trang Rue Royale, ông Lương liếc nhìn chiếc cột đá L´Obelisque với những hình khắc kì bí Egype. Cũng như mọi lần, trong anh lại dấy lên trong lòng cảm xúc kính phục và tiếc nuối về một nền văn minh từng sáng rực một thời xa xưa bên bờ sông Nils, con sông chảy mãi trong long một lục địa nghèo nàn và lạc hậu nhất ngày nay. Nhưng tình cảm đó chưa mạnh mẽ và sâu lắng bằng những khi ông được thả sức lang thang trong viện bảo tàng nghệ thuật  Musee du Louvre, lúc này được nhìn thấy xa xa sau vuờn tượng  Jardin des Tuileries đang rực rỡ trong ánh nắng chiều Paris.
-         Paris đẹp quá ! Người phụ nữ ngồi sau anh thốt lên cảm phục trước cảnh vật ở đây, nơi mà chị mới đặt chân đến lần đầu.
-         Mới chỉ một góc nhỏ của Paris thôi chị ơi. Chốc nữa chị sẽ thấy Paris về đêm còn là một thành phố mộng mơ, trữ tình nữa kia.
Khác với những năm gần đây, thời tiết của châu Âu năm nay chuyển mùa sang xuân rất muộn. Đã là những ngày cuối tháng ba nhưng hình như mùa Đông còn mãi dùng dằng luyến tiếc khi phải trả lại đất trời cho Nàng Xuân. Hè phố Paris vẫn còn đầy tràn dòng người ủ mình trong các bộ quần áo dày cộp chống rét các màu xám xịt. Tuy có nắng, nhưng các tia sáng vàng rực của nó cũng chỉ đủ làm vàng rộm các nóc cao của các toà nhà cổ. Trời đất vẫn chịu cảnh bóng tối kéo đến rất nhanh, để thành phố vội vã lên đèn. Hai ngọn đèn pha sáng rực trên đỉnh tháp Eiffel nối nhau thành một đường thẳng trắng băng chọc thẳng vào bầu trời đang trở nên thấp hơn vì bóng tối.
Sau khi đỗ xe dưới một Parking ngầm, ông Lương lững thửng dạo bước theo đại lộ Rue de Rivoli tấp nập người đi bộ. Đường phố chật chội vì lượng xe cắn đuôi nhau, tranh chấp nhau chay, tiếng lốp xe nghiến rồn rột trên lòng đường lát đá tảng, đặc trưng của các con phố cổ. Đi xuyên qua Place Vendome có cây cột La Colonne sừng sững ở giữa, ông Luơng dạo bước trên những phố nhỏ dẫn về hướng Opera Garnie để rồi lang thang giết thì giờ trong khi chờ những người bạn của mình gọi điên để đến đón họ ở một điểm nào đó mà họ thấy đã mỏi chân trong cuộc du hành mua sắm và ngắm nghía các cửa hiệu đầy ắp thời trang.
Khác với ở những con phố lớn, trong những hểm nhỏ hơi bẩn thỉu vì nước mưa đọng lại, khách du lịch từng đôi một khoác tay nhau thơ thẩn gõ gót dày cứng  trên các hề phố không mấy bằng phẳng và sáng sủa. Hai cô gái người A khá trẻ, ba lô sau lưng, bản đồ trong tay đang líu ríu chuyện trò bằng tiếng Hoa trong khi chờ đèn xang qua đường. Khi ông Lương đi qua bên cạnh, cả hai cô bỗng nín bặt, tò mò nhìn ông, chắc họ ngạc nhiên khi thấy ông đi  một mình chậm rãi, vô định  với hai tay đút túi quần, vẻ mặt lặng lẽ. Ông và họ là những người đồng hương châu lục, giưa buổi chiều lạnh lẽo xa lạ này. Ý nghĩ đó làm ông buồn cười khi mở rộng ra rằng, nếu gặp một con hổ hung dữ trên Sao hoả, thì ông với nó lại thành tình đồng hương Trái đất mà nương tựa lẫn nhau, không tàn sát giết hại lẫn nhau nữa chăng ?
Cũng tự nhiên vậy thôi, khi những người sống lâu ngày xa đất nước và con người Việt nam, thì cứ hễ gặp được một ai đó trên mảnh đất xa lạ này là người Việt thì cảm giác thân thiết  cũng nảy sinh. Nhiều người có địa vị từ trong nước sang đã ngộ nhận tình cảm, hành động của ngoại kiều dành cho họ. Họ đâu hiểu rằng, hoặc vì chưa bao giờ rơi vào tình cảnh như vậy để hiểu rõ rằng, tình cảm của bà con người việt xa xứ ở đây ( trừ những người quá khích vì thù hận cũ ) tình cảm thân thiết đó dành cho họ, là tình cảm tự nhiên trong tâm thức dành cho quê hương, nguồn cội của những con người đành ra đi vì một lí do nào đó. Ra đi mà không ngừng nuối tiếc, không ngừng tưởng vọng với một nỗi buồn không định nghĩa chính xác được.
Người Việt là vậy, tình cảm vừa là sức mạnh nhưng cũng là điểm yếu trong tâm hồn đó làm cho họ đắm đuối trong sự phân tâm của những thế hệ chưa hội nhập hoặc không thể họi nhập được cuộc sống xa hương. Đại đa số các bậc phụ huynh trong các gia đình Việt kiều  thường hay dùng chữ “về” để diễn tả những chuyến đi du lịch Việt nam, mặc dù họ đã có mảnh đất riêng, nghề nghiệp ổn định, con cháu đã mang quốc tịch của nơi họ đang sống. “Về” Việt nam có khỉ họ không còn ai thân thích, “về” để lưu trú trong các khách sạn nào đó ở một thành phố, làng quê nào đó, để được nói tiếng Viêt, ngủ trên đất Việt, thế là đủ nghĩa rồi.
Theo ông Lương, tình cảm cội nguồn của người Việt, dân tộc Việt đó đã tạo nên sức mạnh kết nối nhiều thế hệ, nhiều giai cấp khác nhau, nhiều nhóm người tưởng như thù địch, đối kháng về quyền lợi, quan điểm và chính kiến thành một khối trước những nguy cơ dân tộc bị tước mất độc lập tự do, bị dày xéo băng bạo lực ngoại xâm trên mảnh đất cong cong hình chữ S bên bờ Thái bình dương. Ai tạo được một trường lực làm hàng triệu vector khác hướng nhỏ nhặt đó theo một chiều, một hướng tổng thể, người đó sẽ đưa người Việt nam vào trong một khối sức mạnh vô địch. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc suốt thế kỉ vừa qua của chúng ta đã minh chứng điều đó.
Nhưng cũng tình cảm cội nguồn quá mạnh mẽ sâu lắng. nên đa số người Việt ở nước ngoài không thể an cư lạc nghiệp vĩnh viền trên chính mảnh đất tuy xa lạ nhưng đã nặng tình bao bọc họ trong thăng trầm cuộc sống viễn xứ từ những ngày mới ra đi. Cũng chính tâm lí đó làm cho họ không tận tâm để hoàn toàn thành đạt hết khả năng, những thành công của bao người có tài của người Việt ở nước ngoài không có cái gốc xem Trái đất này đâu cũng là quê hương, con người nào cũng là đồng loại, mảnh đất nào cũng là Mẹ Đất, nên chưa ai đạt đến đỉnh cao thật sự.
    Ông Lương và các ban quyết định ăn tối trong một nhà hàng rất đặc trưng nông thôn Pháp ngay chính bên bờ sông Seine. Một đường phố nhỏ gập gềnh đá lát đường, người ta che bớt ánh sáng từ những căn nhà bên đường một cách cố ý làm cho khách bộ hành lạc vào đây có cảm giác vắng vẻ cô đơn giữa một làng quê nhiều sự bất an. Cảm giác đó thúc đẩy họ nhanh chóng chui vào một khung của thơm nồng mùi thức ăn, ấm nóng mùi rượu và dịu dàng tiếng nhạc dân quê, ngay tức khắc. Trốn chạy cô đơn  vào nơi hạnh phúc có đồng loại.
 Ở đây các quán ăn đều có lối vào nhỏ hẹp, hai bên bày biện lộn xộn những công cụ nông nghiệp, các loại xe thô sơ để kéo bằng tay hay cho lừa kéo, rất nhiều dụng cụ làm bếp và các nông sản đã sấy khô.. tất cả đều cũ mèm, nhưng lại được chăm sóc lau chùi thường xuyên, sạch sẽ. Không gian của lòng quán thường hẹp và chạy sâu vào bên trong. Bàn ghế thì chỉ bằng gỗ mộc đẽo gọt sơ sài, nhưng các cạnh  của chúng đều trơn bóng do khách tì lên hàng ngày. Nếu không có những thực khách ăn mặc thời trang hiện đại, thì đám người Việt mới vào có cảm tưởng đang trong một quán ăn mà bất cứ lúc nào cũng có thể đột ngột từ bên ngoài ùa vào một vài hiệp sĩ gướm giáo lích kích, mũ rộng vành có gắn lông chim …như trong các phim về thời vua chúa châu âu vẫn chiếu trong rạp chiếu bóng.
 Phải ngồi trong khung cảnh như thế này mới thấy hết sự thú vị trong văn hoá hoài cổ của người Pháp. Quán xá thô sơ mộc mạc, quê mùa nhưng khách thì đông kín, mà thực đơn nào có rẻ gì cho cam, kẻ ít tiền nhìn vào giá cả những món ăn đơn giản nhưng đắt đến chóng mặt. Tuy vậy có vẻ ai vào đây khi ra về đều cảm thấy thoải mái cho đến lúc về đến nhà chợt trong thấy ví tiền của mình vợi hẳn.
    Uống Cafe đêm bên quán nhỏ bên bờ sông Seine là thú vui tao nhã của khách bộ hành đã mỏi chân sau một ngày lang thang trong thành phố rộng lớn nhưng đầy danh lam thắng cảnh này. Tuy trời đêm đã chuyển sang lạnh hơn, nhưng khu phố nhỏ đối diện nhà thờ Notra Dame vẫn tấp nập khách du lịch, một số trong họ áng chừng là những cặp tình nhân đi hưởng hạnh phúc lứa đôi, tạm trốn những xô bồ của cuộc sống ngồi nép bên nhau tìm sự âu yếm ấm áp hơi người thân trong quán nhỏ rải rác dọc phố.
    Dãy tường thấp bằng đá xây của bờ sông Seine xếp liền nhau các thùng to bằng gỗ hay bằng kim loại xám đen bám chênh vênh trông như các dãy chuồng bồ câu. Những quầy bán sách cũ này ban ngày được mở rông ra để bày la liệt các loại sách báo, tranh ảnh cũ mèm, lôi kéo khách hiếu kì đông tấp nập. Nét văn hoá khác lạ này bên bờ sông của Paris rất ít nơi có được. Hà nội cũng có các quầy sách vỉa hè, nhưng thường là người ta bày trên mặt đất và choán hết lối đi dành cho người bộ hành, nhiều khi sự khó chịu vì sự ngang nhiên chiếm dụng công cộng làm lấn mất lòng cảm tình của người yêu văn hoá. Tuy vậy. thời sinh viên của ông Lương cũng có lúc sướng run lên khi phát hiện trong mớ sách tạp nham bày lung tung trên các tấm nilon có những cuốn sách khoa học bằng Tiếng Nga, Tiếng Anh vốn là những tài liệu quí hiếm thời đó. Để được làm chủ mới của nhưng cuốn sách đó ông Lương đã phải nhịn ăn sáng một vài bữa và  chế ngự lòng trắc ẩn xót xa cho sự liên tưởng về một Giáo sư, Tiến sĩ nào đó đã vì miếng cơm manh áo của vợ con, mỗi ngày lại đứng lặng đi trước tủ sách quí của mình đang mỗi lúc mỗi vợi dần vì phải đưa ra vỉa hè bán kiểu giấy lộn cho các quầy sách cũ.
   Quận “mười ba Paris“, như cách mà người Việt ở châu Âu thường gọi một khu phố  có nhiều người gốc Á cư trú và buôn bán ở Paris. Thực ra ở đây các cửa hiệu lớn nhỏ của Hoa kiều, Việt kiều chỉ tập trung hai bên của hai đường phố chính chay song song, ngược chiều nhau dài chứng 2 km: Rue de Ivry và Rue de Tobiac. Sáng sáng, ông Lương và các bạn từ khách sạn Majetic của ông chủ già nhưng bảnh bao người Hoa đi xuôi hơn trăm mét là có thể ghé vào quàn“ phở 14“ ăn quà sáng, phở của Hàng phở lúc nào cũng đông khách này không ngon theo tiêu chuẩn phở Hà nội, nước phở đục nhờ nhờ và ngọt vị đường, không đủ vị thơm của  Thảo quả, nhưng ở đây thì như vậy cũng tạm được xem là ngon.
   Đi ngược về hướng Quai de Ivry là người ta có khả năng mua được tất cả những gì là sản phẩm vùng Nhiệt đới trong các siêu thị thực phẩm Á châu. Khách đến Paris có thể tìm tòi lang thang trong các khu buôn bán sầm uất, hay trầm ngâm cà phê trong những góc quán phần lớn khách ngồi là người gốc Á. Người ta có thể thoải mái dùng tiếng Việt hoặc tiếng Hoa để trao đổi ở đây như ở Chợ lớn, Sài gòn vậy. Mhững người xa quê hương bản quán lâu ngày như ông Lương thì một buổi sáng ở giữa quân 13 cũng có giá trị  đỡ thấy cô đơn giữa xứ người rất nhiều. Đi trong dòng người ở đây người ta rất dễ phân biệt giưa người gốc Việt và người gốc Hoa qua khuôn mặt và tác phong. Hoa kiều thường có kiểu mặt tròn béo mắt híp 1 mí, ít biểu cảm và đặc biệt là họ trò chuyện rất to và tự nhiên nơi công cộng. Có lẽ lòng tự hào thái quá của một dân tộc đông đúc nhất thế giới khiến họ cảm thấy cần phô trường nhiều hơn vậy.
- Những ngày lang thang trong các khu phố cổ của Paris vừa qua, mình có cảm tưởng hình như các khối nhà ở đây rất quen thuộc, cứ như đang ở Hà nội vậy.  Một người bạn của ông Lương không giấu được cảm tình với Thành phố lần đầu đặt chân đến này - Cảm giác đó có lẽ được gợi nên từ phong cách kiến trúc, từ tác phong sinh hoạt  và từ những dòng chữ dược đắp nổi trên các vòm cổng… Một số đoạn phố cổ của Hà nội quê hương mình dường như là bản sao sơ lược của thành phố Thủ đô Ánh sáng này.
 Quả thật vậy, người Pháp đến Việt nam không chỉ với tư cách bành trướng chủ nghĩa thực dân mà còn mang theo nền văn minh phương Tây cho mảnh đất nhỏ bé bên bờ biển Đông xa xôi nữa. Dấu ấn của một thời kì đô hộ gần 1 thế kỉ của họ đối với Đông dương còn mãi với thời gian trong các công trình kiến trúc đô thị, trong chữ Viết được Latin hoá, trong ngôn ngữ bình dân cũng như bác học, trong tư duy tân tiến của những nhà trí thức cựu trào được đào tạo bài bản để  có nhiều cuốn sách để lại mãi cho con cháu … Người Pháp thực dân tiến hành bóc lột và người Pháp trí thức đều để lại ở Việt nam dấu tích xung khắc của mình như hai mặt của đồng tiền. Chính các trí thức Việt nam vốn được đào tạo trong các trường thuộc địa đã là nòng cốt cho phong trào kháng chiến chống Thực dân giàng độc lập cho dân tộc Việt như Nguyễn ái Quốc, Võ nguyên Giáp, Phạm văn Đồng …Điều đó minh chứng rằng, đâu phải cứ học trong trường thuộc địa bị chính trị hoá đến ngặt nghèo, thì lòng yêu nước của người Việt bị thui chột hoàn toàn. Càng cấm đoán thì  khao khát tự do càng mãnh liệt, mầm mống phản kháng càng nhu cầu len lỏi tìm đường vươn lên.
   Sau khi đưa nhưng người khách của mình về khách sạn, ông Lương khoác thêm áo ấm vì sắp đến ông phải đi bộ đến điểm hen gặp hai bố con Lê Huy Đông. Những lần trước, bạn ông đều hẹn ông đến thẳng nhà riêng và thường ông được tham dự trong một bữa cơm tối thân mật và vui vẻ cùng với cả gia đình ông bà Kim với con cháu. Nhưng tối nay, bố con ông Kim lại hen ông trong một tiệm ăn Trung hoa nằm trên truc đương chinh ở quận 13 này chắc la vì một lí do nào đó.
    Nhà hàng Thượng hải China là một nhà hàng đặc sản thuần các món ăn Trung hoa, khác hẳn với các nhà hàng khác chạy theo nhu cầu câu khách hiện nay là có thực đơn hỗn hợp Trung hoa, Việt nam và Thái lan, để ai là người châu á đều có thể tím thấy món ăn của Tổ quốc mình khi vào nhà hàng cùng với những người bạn đôi khi không cùng dân tộc. Địa điểm thuận tiện, không gian rộng rãi và trang trí sang trọng là ấn tượng đầu tiên của ông Lê khi bước vào bên trong nhà hàng này. Một cô gái xinh xắn trong trang phục Sườn xám màu huyết dụ lễ phép đón khách ngay từ cửa. Cũng khác ở nhà hang khác ở đất Pháp và ở châu Âu là thường đón khách băng tiếng Bản địa, cô gái chào khách bằng tiếng Hoa không chỉ riêng đối với người Á đông mà cả với khách người Âu khác, điều đó tạo nên một ấn tượng như khách đang vào một nhà hàng ngay trên một con phố nào đó ơ thành phồ Thương hải sầm uất.
  Ông Huy Đông đi ra đón ông Lương vào một khu thực khách nằm khuất sau một bể cá vàng to.Chưa bao giờ ông Lương được chiêm ngưỡng một bể cá vàng trong một nhà hàng ăn châu á to lớn và đẹp lộng lẫy như ở đây. Một khu nền cỡ 6 mét vuông của nhà hàng được dành để kiên tạo nên một chiếc hồ nhỏ có đủ núi non, cây cối, chuà tháp…được trang trí bằng hệ thống chiếu sáng lắp ráp công phu tao cho khách ăn tưởng mình đang đứng trước thiên nhiên tuyệt đẹp và kì bí của miền núi trung hoa luc địa. Ông Kim và một người đần ông thấp bé đang ngồi bên một chiếc bàn tròn trong một khu lô đạc biệt xây dựng như một bancon nhỏ nằm ngay trên hồ cá, ngồi trên đấy người ta cảm tháy hơi mát toả lên của hơi nước trong bể luôn bị xao động bởi đàn cá cảnh con nào cũng to cỡ bắp tay bơi lội không ngừng bên dưới.
-         Cháu chào chú! – Ông Lương chào chú Kim, đoạn quay sang ông lão người Hoa bên đối diện, mà lúc này anh đã kịp nhìn rõ mặt và cách ăn mặc của ông ta.- Chào ông !
Ông Huy Đông giới thiệu thân mật:
-         Thưa chú, Lương là ban của cháu từ thời còn đi học Trung học ở Việt nam, anh ấy hiện đang đinh cư ở bên Tây Đức.
-         Chào cậu ! mời cậu ngồi ! - Với một câu tiếng Viêt rành rẽ và ngữ điệu nhẹ nhàng thân mật khiến ông Lương hơi ngỡ ngàng, ông già hơi nhỏm dậy chìa tay cho khách, bàn tay nhỏ nhưng cứng truyền cho người mới tiếp xúc sự nể trọng trước một con người có bản lĩnh sống.
Khi cả Huy Đông và Lương đã yên vị bên chiếc bàn tròn khảm trai Rông bay Phượng múa, ông Kim chỉ tay về phía già người Hoa:
-         Ông Lưu Sáng đây là bạn của chú từ lúc hai người còn là sinh viên du học ở ngay Paris này. Chú ấy là người Hoa nhưng được sinh ra tại Sài gòn, rồi cũng có thời thơ ấu hoà trong những biến động của Việt nam luôn trong chiến tranh và chính biến. Thời gian thăng trầm thể hiện năng lực của chú trở thành một trí thức già nua, còn ông đây… - ông Kim dí dỏm đua hai về trước về phía ông bạn già - trở thành một doanh nhân hoa kiều thành đạt của nước Pháp.
-         Thôi ! Thôi ! Ông Sáng xua tay. - Ngắn gon là thế này,  cách đây đúng 50 năm hai chúng tôi gặp nhau trong một hoàn cảnh khá đặc biệt và trở thành bạn của nhau. Sau khi tốt nghiệp đại học tôi đi làm việc một thời gian rồi cuới vợ, còn ông bạn tôi đây tiếp tục học trở thành Tiến sĩ loanh qoanh trong các giảng đường và viẹn nghien cứu, thi thoảng mới có dịp gặp nhau. Mươi năm lại đây khi con cháu đã khôn lớn gánh nặng mưu sinh không đè nặng lên vai, chúng tôi gặp nhau thường xuyên hơn và cũng như bao lão già khác chúng tôi hay hoài cổ, mà ôn kỉ niêm và chia sẻ tâm tinh thì với ông Kim đây có lẽ không có ai hợp với tôi hơn. Hôm nay tôi mời các vị đến đây cũng vì lí do đó. Nào chúng ta cung nâng li, mời hai cháu cứ tự nhiên chuyên trò và dùng bữa.
Nãy giờ ông Lương rất ngờ ngợ rằng mình đã gặp ông Sáng ở đâu đó rồi, đúng hơn là đã trông thấy ông ấy ở trong một hoàn cảnh khó quên nào đó, ông cố gắng nhớ lại nhưng trong bữa ăn vui vẻ và thơm thơm mùi rượu Maotai nay ông không thể tái hiện được một điều gì.
-         Cháu Lương ! Tiếng ông Kim làm cắt ngang một cuộc tranh luận về một nhận đinh lịch sử  khá phổ biến trong thời kì Viêt nam cân đại của nhà nghiên cứu Lịch sử trong nước giữa Lương và Huy Đông.
-         Dạ thưa chú, chú gọi cháu ?
-         Nhân tiện đây chú nhờ cháu một việc như thế này: Ông Sáng có một đứa cháu làm chủ một nhà hàng ở bên Đức, trong một thành phố nhỏ tên khó nhớ ở đâu phía Bắc Tây Đức. Gần một năm trước, chú có một ngưới bà con trong Sài gòn nhờ giúp đỡ một đứa con trai của họ vốn đi lao đông hợp tác ở Đông Âu, hình như ở Tiệp khắc thì phải, sau đó bỏ sang cư trú bên Đức. Sau khi tiếp xúc, chú bèn giới thiệu đến xin việc làm tại nhà hàng của cháu của ông Sáng đây. Biết Huy Đong sang thăm chú lần này, người bà con ở Viêt nam có gửi gắm một vấn đề khá khó khăn. Họ muốn nhờ cậy Huy Đông bằng cách nào đó tìm hiểu cuộc sông thực tại của ngưới con và khuyên nhủ anh ta nên quay về Việt nam sinh sông hoặc ít nhất là lập gia đinh. Gia đinh anh ta nhiều lan qua điên thoai trò chuyên nhưng chưa đat đựoc mục đích vì hình như con trai họ có gì đó vướng mắc không giả quyết được. Nếu vì lí do nợ nần tiền bạc thì họ sẽ chuyển tiền sang để nhờ cây chú và Huy Đông trực tiếp trao cho con của họ.
-         Vâng thì chú cứ nói rõ cháu sẽ làm được gì trong việc này !
Huy Đông tiếp lời bố vợ:
-         Như cậu thấy đấy, ông cụ nhà mình thì không thể đi xa được. Cho nên mình phải tranh thủ đi ngay sang đáy trong dịp nghỉ ngắn hạn này, cậu có thể đưa mình đi được không ?
-         Đưa cậu đi thì mình sẵn sàng và mình rất vui nữa là khác vì ngày mai sau khi đưa nhưng người ban Viêt nam của mình ra sân bay Chale De Gon để họ bay thẳng về nước rồi thì mình đi một mình một xe về Đức cũng rất buồn, có cậu cùng đi thì còn gì bằng. Nhưng mà mình cũng nghĩ rằng, thời gian cậu sang thăm nhà Ngoại cùng với vợ con rất ngắn, có nhất thiết phải đi vì một sự nhờ vả của một người bà con xa không ? mình có thể đứng ra làm việc đấy là được rồi.
-         Biết là cậu có thể giúp được, nhưng còn có một lí do khác nữa, chốc nữa mình sẽ nói với cậu.
Ông Lương vui vẻ:
-         Thế thì OK ! không cần bàn luận gì nữa, gia đinh mình sắp được đón khách quí rồi đây. Thât còn gì bằng !
Ông Lưu Sáng xen vào:
-         Cháu Đông  cho chú gửi một món quà nhỏ đến đứa con gái mới 2 tuổi của hai vợ chồng thằng cháu họ của chú với nhé. Sáng mai đến đây lấy nhé.
-         Vâng, có lẽ với món quà của chú cháu đến thăm họ tốt hơn nhiều đấy.
Buổi hội ngộ vui vẻ kết thúc vào lúc đường phố đã tương đối vắng vẻ, sự ồn ào tấp nập nhừong cho sự thơ mộng buồn buồn của một khu phố lai căng hai nền văn hoá Á – Âu giữa không khí lạnh lẽo hàn đới. Ba người đàn ông  Châu Á đã có tưổi đi trên vỉa hè Paris vào lúc đêm vắng không phải là điều bình thường. Tuy vậy do hơi ngà ngà hơi men nên dường như họ đều cảm thấy mình trẻ hẳn ra, bước manh bạo và câu chuyện vẫn còn chưa muốn chấm đứt, trong khi chờ một chiếc Taxi còn trống chạy qua, Ông Lương nêu thắc mắc:
-         Bác Kim ơi, không hiểu vì sao cháu thấy hình như cháu đã gặp ông Sáng ở đâu đó rồi.
-         Ông Lưu Sáng ngó vậy chứ là một người có thế lực trong công đồng người Hoa ở đây, ông ta quan hệ khá kìn đáo chứ không rộng rãi để cháu có thể gặp ở nơi công công được đâu.
-         Vâng ! có thể cháu đã nhầm với ai đó. À mà này, Huy Đông có thể cho mình lí do gì nữa mà cậu phải sang Đức lần này ?
-         Mình sẽ cho cậu biết nhiều hơn khi cùng rong ruổi xe hàng ngàn cây số trong những ngày đến.
-         Thì cứ ngắn gọn sơ qua xem nào !
-         Đại khái là như thế này: Cậu thấy đó việc tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường sa giữa Viêtnam và Trung quốc đang trở nên một vấn đề nổi cộm. Các nhà sử học Trung quốc đang cố đưa ra bằng chứng lịch sử lạm hậu thuẫn cho sừ lấn chiếm ngang ngược của họ. Chúng mình là những người nghiên cứu Sử của Viêt nam từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu tìm tòi theo hướng khẳng định tính toàn ven của lãnh thổ Viêt nam nhát là quần đảo Trường sa và Hoàng sa, tuy vậy vẫn chưa có tính đồng bộ thống nhất toàn diện. Lần này bọn mình quyết sưu tầm khảo cứu một cách toàn diện hơn, có tính thuyết phục chắc chắn hơn cung cấp cho các nhà lãnh đạo đưa công bố trong các cuộc họp quốc tế.
-         Thế các cậu truy tìm trong các cơ sở lưu trữ ỏ Pháp này mới đúng chứ, vì hơn bất cứ chỗ nào khác nước Pháp đã mang về đây gần như tất cả những tư liệu Lịch sử mà trong gần 1 thế kỉ chiếm đóng Đông dương. Trong khi trí thức Viêt nam thời đó là nhưng nhà nho hủ lậu thì những nhà nghiên cứu Pháp đã có nhiều tiếng tăm trong khoa học, họ lam việc có bài bản và khoa học, họ hiểu biết giá trị của các văn bản cũng như các hiện vật, họ có phương tiện nghiên cứu tốt để sao chụp và bảo quản tư liệu lịch sử.
-         Biết là vậy, nhưng chúng tớ còn cần nhiều hơn, khi hay rằng trước đây đã từng có một vài đoàn nghiên cứu của các nhà khoa học Đức đén khảo sát biển Đông, các anh ở nhà có đề nghị mình tranh thủ sang Berlin mò tìm xem sao, biết đâu có gì đó bổ ích.
Ông Lương khẳng khái:
-         Nếu vậy thì mình sẽ tận tình đi với cậu, việc như vậy đâu phải chỉ có các cậu mới có trách nhiêm , phải không nào ?
-         Cậu nghỉ được như vậy thì …
Ông Lương lộ vẻ phật ý :
-         Cậu không cho tớ là người Việt từ lúc nào vậy, mà nói theo giọng đó!
-         Thôi, mình xin lỗi.
Một chiếc Taxi trờ tới, ông Đông mở cửa dìu Bố vợ lên xe rồi rồi quay sang bạn:
-         Mình còn có dịp trò chuyện nhiều, hen ngay mai nhé, mình sẽ chờ ở nhà . Chúng mình sẽ xuất phát từ đấy.

Ông Lương chào hai bố con. Chiếc Taxi đã khuất dạng cuối đương Ivry mà ông còn bâng khuâng đứng một chỗ, trong long thầm thấy ghen tị với bạn về những thành công trong sự nghiệp, về một gia đình hạnh phúc và nhất là có một ông bố vợ trên cả tuyệt vời. Nhớ đến những thăng trầm gian khó mà Huy Đông kể lại, Ông Lương lẩm bẩm.
-         Thằng cha này xứng đáng được hưởng như vậy lắm.
Mãi sáng hôm sau, trong khi ngồi trong quán “Phở 14” ông Lương mới nhớ ra được mình đã trông thấy ông Lưu Sáng người Hoa ở đâu khi nghĩ đến chi tiết ông này nói rất lưu loát tiếng Việt vì đã có thời thơ ấu lớn lên ở Sài gòn.
Cách đây chừng một tháng, một người bạn vốn là một doanh nhân thành đạt ở Việt nam gọi điện nhờ sang đón anh ta ở san bay Chale De Gon rồi giúp anh ta trong một vài ngày đi lại ở Paris. Mặc dù công việc kinh doanh rất bận rộn, nhưng ông Lương đành thu xếp để đi vì theo như ngưới bạn nói, mức độ quan trong của chuyến công vụ này của anh ta là không thể mô tả được. Mà tính yếu của ông Lương là rất vì bạn gần như vô điều kiện.
Mãi khi đưa được bạn về khách sạn ở trung tâm Paris thì ông Lương mới được biết là bạn ông sang gấp là vì chỉ ở đay anh ta mới cơ hội tiếp cận một nhân vật rất quan trọng đã sang công cán tại Paris được một ngày rồi. Nhân vật này sẽ là vị cứu tinh cho công ti của cậu ta trong thời gian sắp đến. Chỉ cần một sự ưu ái của Ngài này thì những công ti tư nhân như của anh ban ông sẽ có nhưng hợp đong kinh tế béo bở trong thời gian đến. Quan hệ là điều kiên quyết định cho bất cứ ai ai kinh doanh ở Việt nam cần phải học. Có quan hệ tốt là có tất cả. Đầu tư cho việc xây dựng các mối quan với các nhân vật quan trong có thế lực, là đầu tư sinh lãi không tính hết được. Ở trong nưoc, cơ hội để chiều chuộng các vị thần hộ mệnh mà không bị dòm ngó hoặc phát giác là điều khó vì ai cũng phải giữ tiếng tăm vị thế trong sạch quan cách của mình. Ở nước ngoài, trừ trường hợp đi công cán có tính ngoại giao chính tắc, còn bình thường thì mọi thủ tục được nới lỏng hơn, con người quan trọng dễ xuề xoà hơn trong các thủ tục tiếp xúc và hưởng sự thư giãn.
Theo cách mô tả của bạn ông Lương thì nhân vật quan trọng lần này không phải là quan chức chính trị còn vì sao mà quan trong thì ông Lương chỉ biết rằng lợi ích kinh tế có nhưng quyền lực không thể tưởng tượng đựơc trong những đất nước mà tham nhũng đang trở thành quốc nạn.
Sau nhiều cuộc điện thoại, cuối cùng anh bạn của ông Lương mới mời được người anh ta cần đi ăn tối. Ngồi trong xe đỗ trước một khách sạn sang trọng bậc nhất của Paris, ông Lương chờ người bạn vào đón khách. Nhưng người bạn vội quay ra ngay vì bị máy người lạ mặt ngăn không cho vào, điều đó gây nên sự ngạc nhiên giân giữ ở anh ta. Tuy rất hậm hực nhưng không còn cách nào khác là hai anh em tiếp tục chờ trong xe. Tầm 15 phút sau, từ trong khách sạn đi ra một nhóm người Á đông, họ nhanh chóng lên 2 chiếc xe sang trong vừa trờ tới, người lên xe sau cùng sau khi mở cửa cho một ngươi to béo và đóng lại một cách kính cẩn là một ông già nhỏ bé. Người đó chính là ông Lưu Sáng, Ông già người Hoa có nhiều thế lực ,bạn của ông Kim.
 Tại nhà Ông Kim, sau khi nghe ông Lương kể lại trường hợp đã nhìn thấy ông Sáng như vậy, hai cha con Huy Đông đều im lặng một hồi lâu:
-         Sau đó mọi việc đều bình thường theo đúng kế hoạch chứ ? ông Kim hỏi.
-         Không phải vậy, người bạn của cháu vào rồi điên thoại cho cháu là cứ về khách san nghỉ vì hai người không đi đâu nữa, anh bạn cháu sẽ về sau bằng tắc xi. Anh ta cho cháu biết là thái độ của vị Đại gia rất bực tức và có phần lo nghĩ nên hộ chỉ ăn tối ngay tại Restaurant của Hotel với mấy người cùng đi mà không có ý định tách đoàn ra đi lẻ như dự định. Anh ta cũng vô tinh cho cháu biết nhóm người mà chúng cháu đã thấy đó là một nhốm người Hoa đại diên cho một ai đó đến thảo luận một vấn đè quan trọng với xếp của anh ta. Nhưng hình như cuộc thương thao đó không thành.
-         Ông Lưu Sáng là một người quen lâu năm của chú, trừ thời còn ở chung nhau trong cư xá sinh viên không có gì dấu diếm nhau, sau khi vào đời mỗi người mỗi ngã cho đến khi gặp nhau lại ở quận 13 thì ông ấy đã trở thành một người kín đáo. Thi thoảng trong các buổi gặp mặt, ông ấy có ý nuối tiếc về những mơ ước học hành thành đạt vì ông ấy là một người rất thông minh và chăm học. Nhiều khi chú có cảm tưởng, ông ấy gặp chú vì chỉ với chú thì ông ấy mới trở lại con người thật, chỉ có chú mới là chứng nhân cho một ông Sáng trí thức.
Đột ngột ông Đông hỏi:
-         Thế Ba có ngạc nhiên khi ông ấy bỏ nghề rồi trở nên giàu có và có nhiều thế lực như hiên nay không ? Vì sao vậy ?
-         Theo Ba hiểu thì ông ấy làm con rể của một gia đình Hoa kiều từ Hồng kong sang và chính từ gia đinh đó ông ta thừa hưởng tài sản rất lớn cả ở Hongkong và ở đây, rất có thể là ở Thượng hải nữa.
-         Giàu có thuần túy không có sức mạnh thế lực ở trong công đông người châu Á ở đây, vì theo con biết thì còn có nhiều Hoa kiều giàu hơn ông Sáng rất nhiều. Qua cung cách của ông Sáng ở khách sạn rõ ràng ông ta nằm trong một tổ chức có thực lực to lớn nào đó, tuy không phải là một thanh viên cao cấp nhất, nhưng ông Sáng phải là thanh viên thân tín nhất. Ông ta biết tiếng Việt thành thạo lẽ dĩ nhiên phải là người phiên dịch kiêm cố vấn trong cuộc thương thảo bí mật lần đó.
Ông Kim hốt hoảng:
-         Con phải cẩn thận, đừng vội suy luận. Chuyên này mà lộ ra là hết sức nguy hiểm cho chúng ta đấy. Bàn tay của các hội kín Hoa kiều rất đáng sợ bởi vì nó hết sức tàn bạo. Tốt nhất là chúng ta coi như không hay biết gì, đối với ông Lưu Sáng ba sẽ thận trong hơn, nhưng không được phép thay đổi thái độ. Còn cháu Lương, theo chú thì cháu nên cẩn thận hơn trong các mối quan hệ của cháu với những người bạn của cháu từ trong nước sang châu Âu này, hiện nay do mục đích của nhà nước khuyến khích làm giàu, xã hội Việt nam phân biệt giữa người với người bằng đẳng cấp đồng tiền có trong túi và lối tiêu xài vô tội vạ, nên người ta không trừ bất cứ thủ đoạn nào để chiếm đoạt các nguồn tiền để làm giàu. Đối với những kể giàu có đột ngột trong nước, theo chú họ đã có thủ đoạn nào đó dù cách này hay cách khác đều là không minh bạch thậm chí xuất phát từ những liên minh mờ ám tội lỗi. Chúng ta sông lâu, quá lâu ở nước ngoài, chúng ta quá lâu sống trong xà hội văn minh và dân chủ nên chú cháu ta không tỉnh táo sẽ trở thành những tên đầu sai ngây thơ và tốt bụng ngu ngốc trong ván cờ âm mưu nào đó. Cháu có hiểu ý chú không ?
-          Vâng cháu hiểu, điều đó cháu cũng có khi ngờ ngợ trong khi nhìn thấy người ta tiêu tiền, trong trò chuyện của các nhân vật mà cháu từng tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp.
Ông Đông  mang hai túi hành lí mà vợ ông đã chuẩn bị trước đó đi ra gara otô. Thời tiết châu Âu trong những năm gần đây rất thất thường, giữa những ngày ấm đột ngột chen vào một vài ngày rét mướt hay ngược lai. Đã bước sang tưổi ngoài năm mươi, ông Đông lại càng phải lo xa và mang thêm nhiều đồ đạc hơn trong những chuyến đi, khi không muốn bị cảm lanh đột ngột.
-         Thôi chúng ta khởi hành thôi – Ông nói với ba vợ và bạn – Chúng ta còn phải vào trung tâm Paris để lấy món quà của ông Lưu Sáng gửi cho cháu ông ta nữa đấy.
Bước những bước đi bắt đầu trở nên nặng nhọc hơn vì tuổi tác bên cạnh con rể, ông già Tôn thất Kim ngập ngừng nói:
-         Đông à, ba nghĩ là đã đến lúc con phải tiếp tục công việc đi tìm thực hư về sự tồn tại hay không của tấm mật đồ Cao Biền rồi..
Huy Đông dừng lại quay người đứng nhìn vào mắt ông Kim, lắng nghe người cha và người hướng đạo đáng kính đang chậm rãi cân nhắc câu chữ:
-         Sau chuyến đi này, khi trở về Viêt nam con nên tổ chức lên Việt bắc  để dò tìm lại vết tích mà Ông Lê Huy Tự , Ba của con đã lần theo được một chặng. Nghĩa là con phải trực tiếp vào hang Pú oẳn thám sát phàn đáy hang chưa được khai phá xem còn bí mật gì giấu ở đấy nữa không, phai khẳng định tính chân thực của truyền thuyết Cao biền.
 Huy Đông cũng đắn đo nhìn vào mắt Ba vợ:
-         Thưa Ba, con cũng chưa khi nào quên được nhiệm vụ và cũng là nghĩa vụ đó. Nhưng với những gì đang biến động hiện nay của thế giới cũng như ở Việt nam, thì công việc này có còn ý nghĩa nữa không ? vì sao ba cho rằng lúc này là đúng lúc phải làm ?
Hơi thoáng chút thất vọng, bực bội ông lão Việt kiều tóc đã bac trắng nghiêm trang , sau khi một chút chuyển cái nhìn về phía bầu trời Paris phía xa ảm đậm và lạnh lẽo, ông cố tránh một cảm xúc nào đó khiến con rể có thể chạnh lòng thương hại:
-         Ba đã già đến cái độ tuổi mà người đời gọi là lão già. Đã đến lúc gần đất xa trời, ba cũng như mọi ông già khác lại có nhiều thời gian thừa hơn để tự rà soát quãng đời đã qua của mình. Và .. ba thấy rằng ba, hay nói đúng ra chúng ta … xin lỗi con ! Phải, chúng ta còn nợ một việc phải làm, một sứ mệnh danh dự đã nhận và nay phải làm dù không biết là có hoàn thành hay có kết quả gì không. Nhưng cần phải làm.
Lúc này, chả nhẽ con là một người nghiên cứu lịch sử Việt nam đi tìm chứng cứ làm cơ sở chứng minh chủ quyền toàn ven của lãnh thổ đất nứoc mà không nghĩ rắng “ Mật đồ Cao Biền “ nếu có thì đó là rất có thể, vâng có thể lắm chứ ! là một bản đồ cổ nhất cho biết nứoc ta khi đó có hình thể như thế nào vào thời nhà Đường chứ. Con có nghĩ vây không hả ?
Không biết phải trình bày sự nghi ngờ của mình về sự tồn tại của một “Mật đồ” từ một truyền thuyết mà rõ ràng là ít tính hiện thực như thế nào để Ông Kim không trách cứ, Huy Đông hoà hoãn:
-         Nếu có một tấm “ Mật đồ Cao Biền” thật, con cứ giả sử như vậy thì liệu với trình độ nhận thức thế giới của một tên phù thuỷ liệu hắn ta có biết được sự tồn tại của Trường sa và Hoàng sa ngoài biển hay không? Con nghĩ rằng là không ?
Ông Kim tỏ ra không nhân nhượng:
-         Lịch sử là hiện thực, là chứng cứ, là sự kiện khách quan, càng nghiên cứu Sử học càng phải tiến đến chân lí đơn giản: Có hay Không, khi nào một giáo sư Sử học như con vẫn lí luận “ con nghĩ rằng” thì có nghĩa rằng đối tượng đó cần phải làm sáng tỏ, chí ít là trong nhận thức của con, của ba và của những con người cần đến sự thật.
 Nhận thấy ông nhạc vốn là người rất điềm đạm và tự kiềm chế bỗng nhiên trở nên quyết liệt và nóng nảy, Huy Đông hiểu rằng mình đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng khiến ông trở nên thất vọng. Thật ra thì tự bản thân mình, Huy Đông cũng đã không một ít lần nhìn lại nhưng năm tháng lăn lộn trong khoa học của mình, đâu là kết quả của tư duy sáng tạo sâu sắc và chân thực, đâu là công trình nghiên cứu khách quan và khoa học thật sự và đâu chỉ là kết quả của nhưng năm tháng lao đông hành chính vì cuộc sống cá nhân một cách tẻ nhạt, là tiếng nói a dua, ăn theo, là tư duy xơ cứng một chiều, trạng thái đó mới đầu còn bị lương tâm cắn dứt nhưng mãi rồi lại trở nên thói quen nhu nhược hèn hạ như bao con người mang danh trí thức khác ở Việt nam.
 Thấy con rể đứng im, phân vân suy tư, Ông già quyết đinh dồn thêm:
-         Thất đáng tiếc khi ba phải nói lên những suy nghĩ của mình với con, vì ba yếu quí và rất trọng thị con, trong khoa học con còn có là một ngưới đồng nghiệp của ba. Nhưng con có thấy đẫ rất lâu con không còn là Huy Đông tư duy sắc sảo và độc lập nữa, các công trình nghiên cứu của con, các đầu sách của con dường như chỉ mô tả minh hoạ cho đời sống chính trị, nếu không muốn nói là tiếng nói ăn theo của một nhóm người lợi dung khoa học phục vụ cho lợi ích của họ. Ngay cả cái niềm vui của ba khi con đạt được học vị hay học hàm này nọ cũng bị ba nghi ngờ, nhất là gần đây người ta ngang nhiên phong tặng ào ạt các chức danh khoa học theo những tiêu chí không giống ai một cách bừa bãi. Nói ra điều này chắc con đau lòng và trách cứ ba, nhưng con ơi chúng ta đã lớn lên trên mặt đất, đi lại trên mặt đất vốn không chứa chấp bất cứ sự xảo trá nào của Trái đất nhỏ nhoi và bất ổn này đã hơn nửa đời người rồi, còn bao lâu nữa mà không chịu trung thực với chính mình để khong hổ thẹn rằng mình chỉ là một cái bóng vật vờ vô cảm, hư danh.
Huy Đông rùng mình cảm nhận từ con người Ông Lão toát ra một điều gì đó khác lạ, dường như sự sám hối dằn vặt của ông cho chính bản thân ông, cho cả một thế hệ, chứ không phải là chỉ cho riêng Huy Đông. Một tiếng kêu bi thương trứoc một thời kì lẫn lộn giả - chân trong nhận thức, nghiên cứu của một thế hệ đã qua và liệu còn tiếp diễn đến bao giờ nữa đây.
Trong khi cố gắng tìm cách lạng lách nhích dần chiếc xe công kềnh của mình trong dòng xe đang tắc ùn trên xa lộ dẫn vào trung tâm Paris, ông Lương hỏi bạn nhằm kéo ông Đông ra khỏi sự trầm lặng đăm chiêu suốt từ lúc khởi hành đến giờ :
-         Có điều gì lo nghĩ mà cậu im như thóc từ nãy giờ vậy, có thể nói ra chia xẻ với mình được không ?
Mắt vẫn hướng cái nhìn lơ đễnh vào dòng xe đủ các nhãn hiệu, chủng loại bên ngoài, ông Đông hờ hững:
-         Một nỗi đau của mình hôm nay dược định danh và được bác sĩ đẩy vào phòng mổ ấy mà.
-         Nghĩa là làm sao, chả nhẽ cậu bị bệnh ?
-         Phải mình bị bênh nan y, đau đớn cả tâm hồn và thể xác.
 Hơn cả bạn mình, là một trí thức bất đắc chí lưu vong, ông Lương hiểu được điều gì mà ông Đông nói đến. Đã chót lao vào chốn học hành, đa mang vào mình ước mơ hoài bão khoa học, nỗi đau đời thường vốn nhẹ nhàng trong thất bại sự nghiệp của con người bình thường trở nên mối dằn vặt, tự xỉ vả của những người có trình độ tri thức cao. Ông nói nhỏ giọng:
-         Mình xin lỗi cậu, thật ra mình còn khổ tâm hơn cậu…
Ông bạn choàng tĩnh:
-         Không ! không! cậu có lỗi gì đâu. Mình xin lỗi ! Đúng ra thì mình đang nghĩ về Ba vợ của mình. Dạo này ông yếu hơn trước nhiều, giá như vợ mình chịu ở lai chăm sóc hai ông bà bên này một thời gian lâu hơn, nhưng cô ấy lại lo cho mình, cho con cái… rồi cái phòng khám tư ở Việt nam làm cho hai chúng mình thật khó nghĩ.
-         Sáng nay thấy hai ông con trò chuyện có vẻ căng thẳng mình đã giả vờ nấn ná lưu lại trong nhà, nhưng từ khi quen biết ông lão mình chưa thấy hai cha con cậu có điều gì bất đồng kia mà ?
Huy Đông khẳng định:
-         Đúng ! đúng là cha con chúng mình chưa có khi nào căng thẳng trong cuộc sống vì cả hai đều không bao giờ để những lo toan tầm thường len vào quan hệ của chúng mình. Còn nói đến hoà hợp thì phải nói rằng, hôm nay mình nhận thấy ông cụ đã chiều mình nhiều quá, đã nhân nhượng mình nhiều quá trong suốt thời gian rất dài vừa qua. Có lẽ là vì thương con gái, hay là quá tôn trọng mình ? mình chắc là vì cả hai lí do đó.
Và .. mình đã chuội theo dòng cuộc sống mà không nhận ra rằng mình không còn là mình nữa. Tư duy sáo mòn đẩy mình ra xa những chuẩn mực khoa học, nhưng lại ngộ nhận đó là cần thiết để theo đuôi những định chế số đông áp đặt, và … hơn tất cả là nỗi sợ, sợ hãi nhiều thứ lắm trong cái xã hội nhiều nghịch lí, thích dánh tráo khái niệm va luôn áp đặt chuyên chính lên trên chân lí hiện nay.
Ba mình chắc là không lúc nào không quan tâm đến mình, vậy mà đến mãi hôm nay phải buột ra không kiềm chế trong đối thoại với mình có nghĩa là phải chăng ông đã có một khoảng cách khó vượt qua giưa hai người khi vài năm bố con mới gặp nhau trực tiếp một lần, vì nghi ngại hay vì khinh thường ?
Ông cụ khôn khéo và tinh quái khi bố trí cuộc nói chuyên thẳng thắn với con rể trước khi mình lên đường nhằm tạo ra một khoảng trống, một nốt lặng bắt mình phải suy nghĩ mà không có sự hấp tấp phăn kháng, hoặc mình vâng lời ông thì cũng là kết quả của một sự suy nghĩ nghiêm túc thấu đáo chứ không phải là do nể nang hoặc sợ hãi tức thì. Chúng mình đã bước vào tuổi già mà ông cụ vẫn xem là con trẻ vậy đó. Thật ra thì …
Một chiếc  Opel Corsa màu mận chín giành đường tạt chéo sườn, ông Lương phanh giật làm chiếc xe chồm giật đẩy ông Đông dúi về phía trước, hốt hoảng đưa hai tay chống đỡ theo phản xạ.
-         Scheisse ! Ông Lương kêu to giận giữ, mặc dù chuyện như vậy là bình thường khi chạy xe trong cái thành phố đông đúc người và xe này. Sự việc vô tình này làm cho câu chuyên của hai người ngừng lại. Ông Đông nghĩ :
-         Như vậy thì mình đã đến lúc phải tìm số điện thoại của chàng thanh niên Nguyễn Việt Tân mời cậu ta bố trí thời gian bay về Việt nam tham gia đi Việt bắc với mình. Không biết cậu chàng có chịu được khó khăn mạo hiểm không ? Và mình nữa có còn nghị lực như trước nữa không ? Gắng lên anh bạn già … anh mà chần chừ là tôi không tha thứ cho anh  đâu đấy.- ông tự mắng mình như vậy.
Đường phố Ivry chạy giữa khu chợ búa Á đông sáng chủ nhật còn rất ngái ngủ và vắng hoe. Gió lạnh thổi thốc dọc con đường thẳng băng, lùa lá cây xao xác tấp đống vào các ngóc ngách xó xỉnh hai bên dãy cửa hang còn im ỉm cửa sắt, chỉ có cửa hàng bánh mì là mở sơm cho các bà già đi mua quà sáng kịp về cho con cháu trứoc khi chúng dậy.
Tấp xe vào trước nhà hàng Shanghai, hai người bạn tiến dến định bấm chuông, không ngờ họ đã thấy ông Lưu Sáng đã chờ để mở cửa cho họ:
-         Chào chú ạ !
-         Chào hai cậu, tôi đã bảo người chuẩn bị thức điểm tâm cho chúng ta rồi. Vào đây các cậu !
Trong không gian rông lớn của nhà hàng, lúc này chỉ có 3 chú cháu, Huy Đông ái ngại cho cái dáng nhỏ thó của ông chủ chậm rãi hướng 2 người vào sâu phía góc khuất trong cùng. Ông lão hơi có vẻ mệt mỏi:
-         Không có gì nhiều, chỉ vài chiếc bánh bao thôi mong các cháu đừng khách sáo. Hân hạnh cho tôi, sáng nay có người uống trà sáng cùng, vậy là tốt rồi.
Biết ông Lương nghi ngại, quan sát có vẻ dò xét, ông Đông chủ động tỏ ra vồn vã tự nhiên:
-         Chú hay dậy sớm vậy sao ? hay chỉ vì chúng cháu, vậy thì chúng cháu mới là người đựoc hân hạnh. Thôi ngồi xuống đi Lê, ở đây đâu còn lạ lẫm nữa !
Ông già chậm rãi:
-         Tôi không khi nào dậy sau 6 giờ sáng, nhưng tôi không xuống đây mà tranh thủ thư giãn trên tầng thượng, có dịp mời các cháu lên thưởng ngoạn vườn „ Ngự lãm“ giữa thủ đô chật chội này, không đến nỗi tệ lắm đâu đó.
-         Theo cháu nghĩ thì chắc chắn đó là một thế giới chẳng nhưng đẹp như trên thiên đường mà con độc đáo không nơi nào có nữa phải không ạ.
-         Cậu quá khen, tôi là thương gia nên khiếu thẩm mĩ cũng có hạn. Thôi chúng ta dùng điểm tâm. Ông Lưu Sáng ân cần mời hai người.
    Bánh bao nóng hổi trong các hộp đan bằng tre được người nhà của ông Lưu Sáng  bê lên toả ra một mùi thơm nồng nàn, ấm cúng và mộc mạc làm hai người bạn không còn ngập ngừng và dè dặt nữa, chẵng cần dùng đến thìa hoặc đũa, họ cầm tay để tận hưởng món ăn dân dã không chỉ quen thuộc ở Trung hoa mà còn ở Việt nam bằng cảm giác êm ái, nóng rẫy cộng hưởng từ đầu ngón tay với tất cả khướu giác , vị giác. Trong các nhà hàng Trung hoa, bánh bao có nhiều loại nhưng chủ yếu được chia ra bánh mặn và bánh ngọt, và cũng nhỏ hơn bánh bao của các gánh bánh bán dạo trên vỉa hè Hà nội hoặc Sài gòn. Dù đi đến đâu xa quê hương nhưng bánh bao và cháo trắng vẫn là món ăn thường xuyên trong các gia đình Hoa Kiều bất kể họ có giàu có sang trọng đến nhường nào. Đặc biệt cháo trắng ăn với rau cải xanh luộc khéo  chấm xì dầu của các đầu bếp người Hoa, rau chín nhưng trông vẫn xanh nguyên như chưa hề đun nấu, thì thật là bắt măt và ngon miệng lạ lùng.
 Sau bữa điểm tâm nhẹ nhàng, trong khi cầu kì chuẩn bị trà nóng với bộ ấm chén Giang tây bằng sứ cổ trắng xanh, ông lão phân trần:
-         Đứa cháu tôi ở bên Đức nó mới lấy vợ được mấy năm, nên mặc dù nó đã nhiều tuổi nhưng con vẫn còn nhỏ. Tôi rất thương nó vì nó là đứa con duy nhất của đứa em trai  đã mất gửi gắm lại cho tôi trước khi mất, nó là đưa có nhiều cá tính và thông minh. Công việc làm ăn bận rộn của cả hai chú cháu, khoảng cách xa xôi nên chúng tôi ít gặp nhau, vả lại … à mà thôi tôi không làm mất nhiều thì giờ của hai cậu vì đường đi còn xa lắm, nhờ cháu Đông đưa chút quà này này đến tay vợ chồng Lưu Anh Minh.
Ông già gọi người nhà đưa ra một túi đưng nhiều thứ trái cây đặc sản châu á trao cho ông Đông, còn tự ông thì mở tủ lấy ra một cái túi lụa nhỏ có dây thắt chăt miệng :
-         Có chút quà cho cháu bé, cậu đưa tận tay Lưu anh Minh. Tôi đã gọi điên báo cho cháu là hai anh sẽ đến thăm, đây là card visit của nhà hàng, cũng dễ tìm thôi. Nhất là có cậu Lê đây là người sông bên đó nữa.
Ông Đông nhận lấy mọi thứ rồi hai ngưới từ biệt Ông Sáng sau khi thưởng thức chén trà thơm phức một một mùi hương là lạ, họ cũng muốn nhanh chóng khởi hành vì đường đi thì xa mà họ thì  không muốn chạy xe với tốc độ cao.
                                          Chương 8
                                        Khát vọng
                              Đất và người gieo hạt
 Hai người đã ra khỏi Paris bắt vào đường cao tốc A4 đựoc một lúc thì trời đổ mưa lớn nên ông Lương  phải giảm hẳn tốc độ và vất vả thận trong lái xe chạy lầm lũi trong mù mịt bụi nước bắn lên từ mặt đừong, nhất là khi có những chiếc xe khác vượt ào qua bên cạnh. Ông Đông ái ngại liếc nhìn bạn đang chăm chú nhìn đường mờ mờ phía trứoc trong khi hai cái gạt nước hoạt đông hết cỡ cất tiếng cọt kẹt liên tục.
-          Lương này ! Hay là mình tạm vào tram xăng nghỉ chờ ngớt mưa rồi hẵng chạy tiếp.
-         Không cần vậy đâu, chuyện lái xe trong mưa là bình thường đối với mình, chẳng có gì nguy hiểm đâu. Đừng sợ ! Với lại mùa này mà chờ mưa tạnh thì không biết phải chờ đến lúc nào vì mưa dai dẳng lắm.
Sợ bạn lo lắng vì chưa quen với việc ngồi trong những chiếc xe chạy với tốc độ cao hơn ở Việt nam rất nhiều, ông Lương gợi chuyện cho bạn đỡ căng thẳng:
-         Cậu có thấy có điều gì không ổn trong quan hệ của hai chú cháu ông Lưu Sáng không ?
-         Mình chưa hiểu ý của cậu muốn phân tích về vấn đề gì ? Chắc là cậu đang có ý nghi ngờ sự bí ẩn của ông ấy nên..,
Ông Lương ngắt lời bạn:
-         Thì cứ cho vậy đi ! Theo mình thì không theo logic bình thường ở chỗ trong khi ông ấy nói rằng, mà qua thái đọ của ông ấy cũng hàm ý như vậy, rắng ông ấy rất quí đứa cháu họ Lưu Anh Minh của mình. Ông ta là một thương gia giàu có va có nhiều thế lực cung như các mối quan hệ thế lực ở đất Paris nói riêng và ở nước Pháp này. Mặt khác, gần như chắc chắn rằng chính ông ta đã đưa đứa cháu từ trong nước Trung hoa sang châu Âu. Vậy vì sao ông ta không giữ Lưu anh Minh ở lại Paris hoặc ở một tỉnh nào đó của nước Pháp. Điều đó là hợp lí vì trong nhiều cái lợi cho cả hai thì có hai lí do có lợi cho ông Lưu Sáng.
  Thứ nhất, là người có nhiều cơ sở và phương thức kinh doanh ông ấy có một đứa cháu ruột tham gia quản lí rõ ràng là tốt hơn, đáng tin cậy hơn. Kiểu như câu thành ngữ Việt nam ta „ Lọt sàng thì xuống nia“ vào túi người ruột thit con hơn mất cho người ngoài.
  Thứ hai, là một đại gia có thế lực ngầm và công khai, một đứa cháu yêu quí ruột thịt bên cạnh là một tay chân tin cậy nhất, nếu anh chàng Lưu Anh Minh được huấn luyện kèm cặp tốt, điều đó thì theo mình ông già Lưuu Sáng có thừa kinh nghiệm, sẽ là trợ thủ tốt nhất để trở thành người sau này cung với con ông ta tiếp tục sự nghiệp của dòng họ.
Vậy mà người cháu yêu quí của một ông đại gia Lưu Sáng phải lặn lội sang mở nhà hàng tận bên Đức trong một thi trấn nhỏ nhoi, vì sao phải vậy ? Mình lờ mờ nhận thấy giưa hai chú cháu Hoa kiều này có nhiều khúc mắc có thể do nguyên ngân chủ quan hoặc khách quan, nhưng theo mình nguyên nhân khách quan là chủ yếu.
-         Nghĩa là cậu cho rằng, ông Lưu Sáng bị áp lực nào đó.
-         Tớ đã từng la lính trinh sát dược đào tạo hẳn hoi và cũng đã có nhiều kinh nghiệm trong cuộc chiến lúc công khai lúc âm thầm ở vùng biên giới Việt Trung tớ linh cảm được như vậy.
-         Thôi được, nhưng không loại trừ lí do đơn giản là anh chàng Lưu anh Minh này là một kẻ hư đốn không đáng tin cậy nên bị ông chú đưa đi xa cho khuát mắt, mặc dù rất yêu thương cháu mình. Kiểu như người Tàu thường hay thich „dạy cho một bài học“ để răn đe, vậy thôi.
-         Mình nghĩ sau khi đến thăm anh cháu họ Lưu này thì chúng mình sáng tỏ hơn trong nghi vấn này, mà thôi ! vì sao chúng mình lẫn thẩn vậy, chuyên không dính dáng mà phải bận tâm nhiều để làm gì, chuyện người ta mà phải không cậu ? Nhiệm vụ của cậu là việc khác cơ mà.
-         OK, stop „những suy luận có lí” của anh cựu học sinh chuyên toán kiêm cựu chiến sĩ trinh sát tại đây, và cậu khi đến thăm nhà người ta cũng dừng ngay thái đọ xét nét, ngờ vực hình sự đi là vừa
Ông Lương ngượng nghịu cười:
-         Thì mình cũng đâu đến nỗi dại dột như ngày xưa nữa, già rồi sức đâu mà dẫm đạp vào chuyện người ta. Không khéo lại còn bị ăn đòn cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen ấy chứ.
    Rút ngắn chăng dường bằng cách chay tắt qua Luxamburg theo hướng dẫn của máy Navigator  (GPS)  họ đến được thị trấn có nhà hàng của Lưu Anh Minh sớm hơn dự định. Đây là một thành phố nhỏ nằm trong một tiểu bang Tây Bắc nước Đức, dân cư ở đây thưa thớt, không có cảm giác trù phú như ở những Tiểu bang phía Nam. Từ đương cao tốc – Autobahn – ông Lương lần mò theo các con đương liên tỉnh chay giữa các khu rưng xen những cánh đồng ảm đạm, mãi đén khi trời đã tối hẳn thì họ mới đõ được xe trứoc một nhà hàng dỏ rực ánh sáng đỏ của đèn lồng đặc trưng của quán ăn Trung hoa. Vừa sửa soạn xuống xe ông Lương vừa nói với bạn:
-         Cậu biết không, ở đây người ta nói vui „ Hễ thấy chỗ nào có đèn đỏ rực về ban đêm, thì nếu không phải là nhà thổ thì chắc chắn là quán Tàu“. Đấy ! cậu thấy có đúng không ?
-         Thật vậy à. Ừ nhỉ ! Ông Đông vừa vưon vai làm vài động tác thư duỗi sau một chặng đương dài ngồi gò bó trong xe vừa ậm ừ với bạn.- „ Shanghai  Chinarestaurant „ ! ồ lại cùng motiv nhà hàng của ông bác Lưu Sáng ở Paris, nghe chừng ông cháu này chịu ảnh hưởng bậc cha chú của mình nhiều đây.
    Tấm bảng hiệu viết cả hai thứ chữ Trung quốc và Đức trình bày rất đẹp trên một hộp đèn sáng rất nổi bật trong bóng đêm, treo trước một căn nhà hàng chiếm trọn tầng trệt của một khối nhà thiết kế hiện đại cho một cụm văn phòng  xen lẫn căn hộ tầng trên. Toà nhà tuy nằm trên con đường chính xuyên qua thị trấn, nhưng hơi bị tách biệt đọc lập tạo nên nhiều góc nhìn thuân lợi cho một nhà hàng Trung hoa phô trương những cấu trúc truyền thống đặc trưng về các mặt của nó : cổng vào tiếp sau hai con sư tử áng chừng bằng đá to cao chưng 1m  đứng chầu hai bên, là mái cổng cong cong ngói giả xanh đỏ được đỡ bằng hai cái cột trụ khảm rồng cuốn lượn. Dọc theo các hiên sườn nhà đều được ốp các phiến kính khắc mờ hoa lá chim , mây nước mô tả 4 mùa ơ Trung hoa. Tuy rất nhiều trang trí nhưng tổng thể của các bức tranh không làm rối mắt người nhìn mà lại hài hoà đẹp mắt, chứng tỏ chủ nhân của nó có tính toán làm sao không bị mâu thuẫn giữa phô trương kinh doanh với nhún nhường mĩ thuật chi phối.
      Không khí ấm áp trong nhà quyện với tiếng nhạc Trung hoa nhè nhẹ làm cho hai người vừa từ bên ngoài bước vào cảm như lọt vào một thế giới khác giữa đất châu Âu lạnh lẽo, vắng lặng khi bước về đêm. Quán đang lúc đông thực khách, tuy vậy nhờ bố trí nhiều bục ngăn cách và rất nhiều cây cảnh to, nên không bị ồn ào náo nhiệt. Chọn một chỗ ngồi khuất sau bể cá vàng lớn có cặp cá rồng bơi lững lờ, ông Lương giải thích với cô gái phục vụ người á châu lí do họ đến đây bằng tiếng Đức. Cô ta vội đi sâu vào trong, lát sau quay ra cho biết ông chủ đang bận yêu cầu hai người chọn 1 thứ đồ uống gì đó trong khi chờ vãn khách.
  Nhâm nhi hai cốc nước suối mát lạnh, hai người mãi trò chuyện không để ý đến một người đàn ông ăn vận lịch sự đến bên cạnh:
-         Gutten Aben !
Hơi ngỡ ngàng, ông Lương nhỏm đứng dậy:
-         Gutten Aben ! Sie sind Herr Lưu ? Lưu Anh Minh ?
-         Ja ! Bin ich ! Wollen Sie mit mir treffen ?
-         A so ! Ich bin Lê und mein Koleger ist Herr Lê Huy Đông. Herr Lưu Sáng …
Lưu Anh Minh vội ngắt lời:
-         Moment ! Sind Sie Vietnamesse ?
-         Ja !
Anh ta hạ giọng nói bằng tiếng Việt giọng bắc Bộ:
-         Tốt rồi ! Xin mời hai ông theo tôi vào nhà trong !
Đứng dậy đi theo ông chủ quán, ông Lương vẫn chưa hết ngỡ ngàng vì hai điều bất ngờ: Trái với những gì dự đoán, anh chàng cháu yêu của ông Lưu Sáng không phải là một gã người Hoa trẻ trung, lạnh lùng mà là một trung niên cương nghị chín chắn, trí thức, hơn nữa ông ta lại biết nói tiếng Việt rất chuẩn xác như người Việt nữa. Liếc nhìn bạn nhằm chia sẻ cảm xúc, ông chỉ thấy ông Đông lặng lẽ, hơi có chút mỉm cười, đi theo ông Lưu.- Thật là chẳng hiểu ra làm sao nữa – ông Lương nhún vai, bám sát họ.
 Khi đã yên vị trên bộ Salon băng vải giả da trong một căn phòng biệt lập có vẻ như phòng làm việc của ông chủ quán vì có cả bàn giấy, máy tính để bàn và laptop, rất nhiều học tủ xếp các hồ sơ, giấy tờ, sách báo.
-         Mời hai ông ngồi ! để tôi pha một thức uống gì đó nóng một tí, ngoài trời chắc lạnh lắm phải không ạ ?
Ông Lưu bước ra ngoài dặn một điều gì đó với người làm, tiếng ông lẫn trong tiếng va cham của soong nồi bát đĩa, tiếng trò chuyên quát gọi, sai phái trong  căn nhà bếp gần đó.
-         Tối hôm qua, chú tôi đã cho tôi biết về chuyến đi của hai ông qua điện thoại. Nhung tôi không nghĩ là các ông đến thẳng đây mà không ghé qua nhà của ông Lê, nên cũng hơi bất ngờ.
-         Cũng nhờ có ông bạn tôi đây thao đường và tay lái tốt, chứ tôi cũng đinh nghỉ qua đêm ở đâu đó mai mới đến đây dược. Công việc làm ăn có tốt không ông Lưu ?
-         Ồ ! thì cũng được. Ông Kim có được khoẻ không ?
-         Ông có biết Ba tôi ?  dạo này sức khoẻ của ông ấy không được tốt lắm
Lưu Anh Minh hơi thoáng trầm ngâm:
-         Lúc mới sang châu Âu tôi ở Paris một thời gian khá lâu. Trong một số lần tôi đã có dịp tiếp xúc với ông Kim, mà không chỉ với ông ba vợ của ông, tôi còn biết ông nữa đấy: giáo sư Lịch sử Lê Huy Đông . Tôi đã đọc một vài bài nghiên cứu của ông trên Internet. Nhưng tam gác câu chuyện này sang bên, bây giờ chúng ta ra ngoài ăn bữa tối vì tôi đoan chắc là hai ông chưa ăn phải không nào. Tôi đã bảo người làm gọi điện đăt phòng cho hai ông trong một khách san nhỏ cuối phố, hai ông mang hành lí về đó tắm giặt, nghỉ ngơi, xin đưng khách sáo. À ! Ông Đông có cần gặp cháu ông ngay bây giờ chưa ?
-         Ông Đông xua tay:
-         Thôi làm phiên ông nhiều vây là quá lắm rồi, giờ nhà hàng đang đông khách, cứ để cháu làm việc, ngay mai  trước giờ làm việc gặp nó cũng được. Ông chu đáo quá, chúng tôi cám ơn ông nhiều !
-         Vậy thì chẳng phải vội vì ngày mai là ngày nhà hàng này nghỉ như thường lệ của hàng tuần vào ngày Thứ Hai, tất cả chúng tôi đều không là việc.
Ông chủ Lưu chủ đông giới thiệu cô gái người Hoa mà hai người khách ngỡ là người bồi bàn khi mới vào đây là vợ mình, thấy nét mặt hơi thoáng ngạc nhiên của ông Lương, anh ta phân trần:
-         Tôi đã có một người vợ vốn là bạn học thời Đại học ở Đại lục, nhưng cô ấy không may bị mất… vâng ! nói đúng hơn là bị giết chết trong biến cố Thiên an môn 1992. Mất mát đó khiến tôi không còn hứng thú xây dựng gia đình với một người phụ nữ nào khác. Mãi khi đã sang Paris chú Lưu Sáng thúc ép và mai mối nhiều lần tôi mới đồng ý tìm hiểu và lấy cô gái con của một người bạn chú Sáng ở Hồng kông. Tuy cô ấy còn rất trẻ so với tôi nhưng chúng tôi rất thương yêu nhau. Chúng tôi đã có một đứa con gái, cháu đang ngủ kia kìa.
Khi này cả hai người khách mới nhận thấy một chiếc xe nôi rất đẹp  nằm khuất sau chiếc bàn giấy của ông Lưu. Đến bên cạnh con, ông bố nhẹ nhàng rung rung chiếc xe một cách âu yếm và sửa lại chăn đắp cho cô con gái:
-         Ở cái tuổi gần 50 mới tìm lại được hanh phúc vợ chồng con cái kể ra cũng quá muộn mang phải không hai ông ? Lại lấy vợ trẻ hơn mình nhiều, nhiều khi tôi cũng phải tìm cách dung hoà sự chênh lệch thói quen, tầm hiểu biết và tác phong giữa hai thế hệ, nhưng nói chung là tôi đã trẻ ra , yêu cuộc đời này hơn rất nhiều so với tôi của những ngày mới trốn chạy sang đây. Vợ tôi là người hiền lành, hiểu biết gánh đỡ công việc nhà hàng này rất nhiều, chứ trí thức nửa mùa như tôi thật vất vả trong hàng đống công việc tỉ mỉ thật cũng khó xoay xở.
Điều này thì cả hai người bạn rất thông cảm vì chính họ cũng là loại „ trí thức nửa mùa“ như ông Lưu, nhất là trong trường hợp của ông Lương: cả một thời trai trẻ chăm chỉ vượt mọi gian khó để học thành tài, học để vươn lên thành người hữu ích cho xã hội, thế mà vì những điều kiện biến động khách quan cũng như chủ quan từ bản thân mình để rồi không sử dung, quên dần tri thức của mình, biến mình thành những kẻ ông không ra ông thằng không ra thằng, hèn mọn trong lo toan miếng cơm manh áo hàng ngày. Đau xót và dằn vặt khôn nguôi là phải thôi.
Dẫn hai ông khách Việt nam ra một chiếc bàn ở góc xa, dường như ông Lưu muốn tránh cho họ những tò mò của những người làm công trong quán. Vội đưa hai cuốn thực đơn cho họ, ông chủ xin lỗi rồi vội vã đi về phía cửa đón chào một tốp khách mới vào, có lẽ đó là một gia đình người địa phưong rất thân quen với ông chủ quán, họ trò chuyên chào hỏi nhau rất thân tình vồn vả. Ông Đông nhìn theo Lưu anh Minh:
-         Bây giờ thì cậu đã đỡ thấy nghi ngại chưa, anh ta cũng đáng mến đấy chứ ?
-         Nghi ngại thì giảm đi nhưng thắc mắc chưa hiểu thì lại càng nhiều hơn, ví như tại sao anh ta rất thạo tiếng Việt ? Tại sao một đứa cháu trí thức như anh ta lại không hợp với ông Sáng trí thức ? Và…
-         Thôi ! Thôi! tạm gác lại đã, ngày mai chúng mình sẽ hỏi thêm. Còn bây giờ thì chon thức ăn gì đó rồi chúng mình về khách sạn. Quấy rầy người ta lúc này là không tiện một chút nào cả.
Khách sạn nhỏ mà ông Lưu trực tiếp dẫn hai người khách của mình đến nằm cách nhà hàng không xa, chủ của nó cũng có vẻ rất thân quen với Ông bạn Hoa kiều khi họ ôm hôn thân mật thay cho cách bắt tay chào hỏi thông thường. Rõ ràng rằng Lưu sống cởi mở và rất thân thiện với mọi người chung quoanh, anh ta đã lấy lại đựoc thăng bằng để hoà nhập vào xà hội xa lạ này với vốn ngôn ngữ có lẽ là không tồi của mình. Ông Lương biết Hoa kiều ít học có nguồn gốc nông thôn rất khó học để phát âm đúng tiếng Đức vì họ không đọc được các chữ cái Latinh.
 Sau khi bố trí chu đáo cho khách, Lưu hỏi ông Đông:
-         Ông có thể lưu lại đây chơi với tôi một vài ngày được không ?- Nhận thấy vẻ ngạc nhiên trên mặt khách, Lưu vội phân bua: - Ông biết đấy, ở đây rất ít có điều kiện tiếp xúc và trò chuyện với những người châu á hoặc đồng hương của tôi về những vấn đề khoa học hoặc xã hội, vì nhiều lí do, nhưng có lẽ thông thường mọi ngưqời chỉ chú trong vào kinh doanh kiếm sống và học vấn thì  hiếm có ai có trình độ hiểu biết trong lĩnh vực mà tôi đã tưng học và quan tâm nghiên cứu. Thật may mắn khi có một người như ông đến chơi, tôi muốn đàm đạo với ông một vài vấn đề mà theo tôi nghĩ ông cũng đang quan tâm. Ông có hiểu ý tôi không ?
-         Cám ơn ông về nhã ý tốt đẹp đó, nhưng để tôi bàn với ban tôi đây rồi trả lời ông sau. Nhưng tôi nghĩ thì chúng ta có cả ngay mai để gặp gỡ trò chuyện, vậy chắc cũng đủ rồi phải không nào ?
-         Vây cũng được ! Bây giờ tôi phải về giúp vợ tôi tiếp khách, hen hai ông sáng mai sang nhà tôi tầm 10 giờ để dùng điểm tâm, căn hộ của gia đình tôi ở ngay tầng trên của nhà hàng. Tôi sẽ chờ hai ông. Còn bây giờ thì tạm biệt. Chúc hai ông ngủ ngon.
-         Chào ông Lưu !
Hai người bạn già rửa ráy xong rủ nhau xuống Bar ngay trong khách sạn ngồi uống bier, thức uống nổi tiếng thế giới của người Đức. Trong khung cảnh của một quầy bar rất đặc trung về cấu trúc, về trang trí cũng như phong cách phục vụ ấm cúng thân thiện của vùng nông thôn châu Âu này, ông Lương giới thiệu cho ban mình sơ lược về cuộc sống của những người tha hương kiếm sống như ông và ông Lưu, về những trăn trở đằn vặt suốt những năm tháng hành trình sống mòn của mình … trong tiếng ồn ào trò chuyện át cả tiếng nhạc từ chiếc máy thu hình đạt ở góc quán của nhưng con người chất phác ở thị trấn nhỏ nhoi này.
Trở về phòng trong trạng thái cả hai đều hơi ngà ngà men bier, hai ông bạn già ngủ ngay sau một ngày nhiều ấn tượng đẹp đẽ trong khong khí mát lạnh trong lành và yên tĩnh nông thôn.
Buổi sáng ngày làm việc đầu tiên sau hai ngày nghỉ cuối tuần khởi đầu bằng tiếng ầm ào của tiếng động cơ ôtô các loại chạy trên con đường trước khách sạn ngay từ lúc trời đất còn tối nhập nhoạng. Cửa hàng bánh mì đối diện bên kia đường, sáng đèn mở cửa từ lúc 5 giờ, tấp nập người đi làm sớm dừng xe ghé mua. Ông Đông làm vài động tác thể dục khoan khoái rồi tắm rửa theo thói quen, thời gian còn dài ông lấy máy tính xách tay ra làm việc vì không muốn đánh thức ông bạn già của mình dậy. Thói quen sinh hoạt của những người có nhà hàng ăn uống ở châu âu thường khác với công nhân hay viên chức các công sở, họ phải làm việc đến nửa đêm nên thường dậy muộn ở sáng hôm sau vì tân 11giờ trưa mới phải đến nhà hàng chuẩn bị cho một ngày làm việc mới. Ngày thứ 2 hàng tuần, trong khi mội người bắt đầu một tuần làm việc mới thì các nhà hàng đống cửa để công nhân hưởng một ngày nghỉ duy nhất của mình trái khoáy với nhịp điệu sống chung quoanh.Người nào khởi nghiệp tự kinh doanh của mình bằng phương thức mở tiệm ăn châu Á, là chấp nhận sự lao động nhiều giờ hơn đi làm thông thường khác, chấp nhận cuộc sống gia đình ít khi đoàn tụ trong bữa cơm gia đình hàng tối, chấp nhận những bữa ăn vào nửa đêm để bao giờ khi lên giường mà dạ dày vẫn còn căng phồng vì ăn muộn, phản khoa học trong sinh hoạt ẩm thực.
Biết ông Lương còn phải ngủ muộn hơn vì vừa là thói quen của một ông chủ nhà hàng, phần là vì ngày hôm trước ông ấy phải liên tục lái xe một chặng đường khá dài, ông Đông rón rén mặc quần áo ấm sau khi check Mail xong, ông mở của rời khách sạn đi dao phố.Vừa đi hưởng không khí trong lành vừa tranh thủ khám phá phong cảnh của một thị trấn nông thôn ở nước Đức giàu có và hiện đại, ông nhận thấy rằng phải còn rất lâu, rất lâu nữa làng quê nông thôn Việt nam mới có được cuộc sống như hiện nay ở đây, nếu không muốn nói là với cung cách lãnh đạo kinh tế của những con người giáo điều lập dị thì viễn cảnh giàu mạnh của làng quê việt nam chỉ nằm trong các nghị quyết ảo tưởng viễn vông, chẳng bao giờ trở thành hiện thực. Khoảng cách thành thị và nông thôn, giữa kẻ giàu và người nghèo càng bị đào sâu thêm, ai là người có lương tri trách nhiệm cũng nhận thấy điều đó trong xã hội  đầy rẫy bất công hiện nay, nhưng đều bó tay vì bất lực.
Mặt trời đã lên cao, nhưng ánh sáng rực rở của nó không xua tan hết băng giá trên mặt đất bám đầy những hạt sương đọng trắng xoá như tuyết trên cỏ cây hai bên đường. Chỉ cần đi một lúc ông Đông đã ra đến những cánh đồng rộng mênh mông đất đất đai màu mỡ, xen lẫn các khu rừng được chăm sóc bảo vệ rất đẹp đẽ, dường như người Đức không bao giờ bẻ đến một cành cây của rừng chứ đừng nói đến chặt phá bừa bãi. Tất cả cây cối đều nguyên vẹn vững chãi, chẳng ai động đến những quả táo đỏ rực trĩu nặng trên cành của những cay táo mọc hoang hai bên đường và những quả chín rụng nằm lăn lóc trên mặt đất khi chưa được các ông bà già đến nhặt về để ủ ngâm làm nước compot hoa quả cây nhà lá vườn. Thiên nhiên được người ta chăm sóc giữ gìn bằng ý thức tự giác, bằng sự tôn trọng pháp luật nghiêm minh, bằng các hoạch định kinh tế nhà nước nhất quán, toàn diện thể hiện đến từng ngóc ngách nhỏ nhất của đất nước và đời sống con người, đứng trong giá lạnh giũa đất nước xa lạ, ông Đông càng lạnh hơn khi nghĩ về đất nước mình.
Khi ông trở về khách sạn thì  ông Lương đã dọn dẹp gọn gàng mọi thứ, quần áo chỉnh tề chờ bạn về để sang nhà ông chủ Lưu Anh Minh.
-         Chúng ta sẽ khởi hành đi Berlin hôm nay hay ngày mai ?
Ông Đông lưỡng lự:
-         Thật ra tôi cũng chưa quyết định, vì một mặt tôi cũng muốn đi nhanh để còn về lại Paris chuẩn bị cho 1 tuần nữa đi Việt nam của cả nhà tôi, một mặt cũng thấy Lưu tiên sinh đây có gì đó rất thú vị cần khám phá, ta đi ngay thì cũng tội cho ông ta thế nào ấy. Sự chu đáo trong tiếp đãi chúng ta, cách nói chuyện có vẻ chân tình và nhu cầu trò chuyện với chúng ta, mà theo như cách ông ta nói, thì ông ấy có nhu cầu thổ lọ tâm sự gì đó, làm cho tôi mềm lòng nghiêng theo hướng ở lai thêm một ngày nữa. Cậu thấy thế nào ?
-         Cái đó tuỳ cậu ! Nhưng cậu phải  nhớ dành thời gian ở chơi nhà tớ một vài ngày đấy nhé.
-          Một vài ngày ? cái ông bạn này đừng có mà tham lam vậy nhé. Thôi ta đi nào kẻo Lưu tiên sinh đợi.
Cũng như ở nhà hàng Thượng hải ở Paris, hai người khách đã được ông chủ nhà đợi sẵn trước cửa của nhà hàng:
-         Đáng lẽ tôi mời hai ông lên nhà chơi thăm nơi ăn chốn ở của gia đình, nhưng vì có con nhỏ, nhà cửa bề bộn, tiếng trẻ con nghịch ngợm chắc không tiện lắm. Thôi thì chúng ta ngồi dưới này cũng được, phải không hai ông ?
-         Ồ không sao. Như thế này là hợp cho chúng tôi hơn.
Ông Lưu thoải mái trong bộ quần áo may theo kiểu dân tộc Hán, có khuy cài bằng dây vải thắt nút trông rất tinh xảo, giản dị nhưng sang trọng. Nổi bật trên màu lụa tơ tằm màu xanh chàm biếc là hình thêu một con rồng vàng lượn dọc chiều cao của vạt áo trước bên trái, trông ông Lưu như một ông chủ nhà quí phái nào đó ở Thượng hải đang đón khách :
-         Mời hai ông ngồi dùng điểm tâm. những thức này là do tôi chuẩn bị nên chắc không ngon lắm. Vợ tôi sáng đậy là bận nhiều với con nhỏ nên tôi không làm phiền cô ấy.
Nhìn hai ba tô phở thơm phức trên mặt bàn, hai ông khách quá đổi ngạc nhiên:
-         Trời ! Ông nấu phở đựơc ?
Xoa tay nghượng nghịu, chủ nhà phân trần:
-         Thường thì khi nào thích ăn phở, tôi bảo người phụ bếp người Hà nội nấu cho tất cả mọi người cùng ăn. Nhưng hôm qua hơi đông khách, anh ta không có thời gian để làm, nên sáng này để tiếp đải hai ông, tôi dậy sớm tự tay nấu. Cũng chẳng có gì là vất vả đâu.
-         Cám ơn thịnh tình của ông rất nhiều, Lưu tiên sinh ạ !
-         Xin đừng khách sao ! xin mời hai ông !
Không thể chờ hơn được nữa, ông Lương nêu thắc mắc của ông ra trước khi ăn:
-         Ông Lưu này, chúng tôi muốn ông giả thích rõ vì sao ông lại biết tiếng Việt nam chúng tôi một cách tuyệt vời đến như vậy, rồi ông lại chẳng những thưởng thức mà còn biết nấu món phở Hà nội của chúng tôi. Phải chăng ông đã từng là người Viêt gốc Hoa sống ở Viêt nam ?
-         Thì đúng như ông  nói , tôi đã từng sông ở Việt nam. Thế được chưa nào ? Bây giờ thì ăn đi đã, phở mà ăn nguội thì chán lắm. Xin mời !
Khi đã ngồi dùng trà nóng trong phòng tiếp khách riêng của mình, Lưu Anh Minh tiếp tục:
-         Vì tôi đã biết về thân nhân của ông Lê Huy Đông, nhưng còn ông đây…
-         À xin lỗi ! Tôi tên là Lê Trung Lương, đồng hương và cũng là bạn học thời nhỏ của ông Đông đây. Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Bách khoa Hà nội, tôi được về công tác trong một viện nghiên cứu chế tạo máy ở Hà nội. Năm 1986 tôi được sang Ba lan làm nghiên cứu sinh sau một thời gian dài thi tuyển vất vả, khó khăn. Do tham gia một số hoạt động trong thời kì sụp đỏ của khối Đông Âu, cụ thể là tổ chức các cược hội thảo đòi thay đổi chế độ chính trị ở Việt nam, nên sau khi bảo vệ luận án nghiên cứu, thấy khi trở về sẽ gặp nhiều bất lợi nên tôi đã tìm đường sang Tây Đức xin ở lại. Cuộc đời sa vào những lo toan kiếm sống, và những đứa con liên tiếp ra đời, làm cho tôi càng ngày càng rời xa ước mơ của tuổi tre và giờ đây tôi cũng là một ông chủ nhà hàng như ông ở thành phố nhỏ thuộc tiểu bang Ba den – Wurttemberg.
-         Ồ vậy à. Còn tôi thì đúng như các ông đã đoán, những biến động chính trị ở Trung quốc mà khủng khiếp nhất là cuộc cách mạng văn hoá tàn bạo làm cho hàng ngàn con người đủ các thành phần chạy dạt ra khỏi đất nước. Ông bố tôi dắt díu vợ và con trai tức là tôi còn nhỏ xíu chạy trón khỏi Thượng hải, khi  ông nội tôi vốn là một giáo sư Đại học, một Đảng viên Đảng cộng sản Trung quốc giữ một chức vụ quan trọng nơi ông công tác đang bị lực lượng Hồng vệ binh tạo phản bắt giữ rồi đưa ra đấu tố có nguy cơ bị bắn bỏ vì bị gán tội phản cách mạng. Bằng cách nào đó tôi không rõ, gia đình tôi dạt đến Hải phòng, Việt nam. Dấu hết tung tích, bố mẹ tôi lần hồi trụ lại được nơi đó sinh sống như mọi gia đình hoa kiều khác. Bố tôi vốn được học hành tử tế nên nhanh chóng xin được làm cán bộ trong một xí nghiệp nhà nước, mẹ tôi cũng vậy.Tôi được đi học ở trường như trẻ em người Viêt, tuy nhiên vẫn được bố tôi cho đi học thêm ở một trường do Hội người Hoa yêu nước tổ chức nhằm không để trẻ em quên tiếng mẹ đẻ. Năm 1977 trong khi  tôi đang học ở trường Đại học sư pham, bố tôi theo sự chỉ dẫn của tổ chức mà trước đó ông đã được móc nối và đã hoạt đông nửa bí mật nửa công khai, ông tiến hành kích đông và lôi kéo Hoa kiều tạo nên làn sóng chống đối, bạo loạn trong cộng đồng ở Hải phòng. Cuối cùng ông bắt tôi cùng gia đình theo đoàn Hoa kiều ùn ùn kéo nhau về nước. Không hiểu mô tê gì vì còn trẻ và hoàn toàn tin tưởng ở bố mình, tôi  tích cực giúp đở ông hoàn thành bất cứ nhiệm vụ gì mà tổ chức chỉ đạo phải làm. Thậm chí lúc đó tôi trở nên cuồng tín căm thù Chính quyền Việt nam vì cho rằng chính họ đã gây nên những sự kiện trên, làm cho tôi mất học, làm mất mối tình đầu của mình với một người ban gái cùng lớp, là nguyên nhân gia đình tôi mất sạch mọi  của cải nhà cửa mà bố mẹ tôi dành dum ki cóp bấy lâu nay. Nhờ những người bạn hoặc học trò của ông tôi, vốn thoát qua được các cuộc thanh trừng, lúc này đang giữ nhiều chức vụ cao trong Đảng công sản Trung quốc, trong chính quyền và cả trong quân đội mà bố tôi thông qua Đại sứ quán Trung quốc ở Hà nội đã liên lạc lại được từ khi còn ở Hải phòng, bố mẹ tôi được quay về Thượng hải và được nâng đỡ rất nhiều. Trong khi chưa kịp chuẩn bị kiến thức để đi học lại ở Đại học, một người bạn của ông nội tôi lúc đó đã là một vị tư lệnh trong quân đội gợi ý bố tôi nên cho tôi vào lính để rèn luyên một thời gian dưới quyền của ông ta. Không biết đó là một mênh lênh hay một lời khuyên nữa, nhưng kết quả là tôi trở thành một người lính trong cái quân đội tất cả một màu xanh rì đó, lúc mới vào tôi không biết rằng chính quân đội Trung quốc đang rất cần những người thông thao Việt nam như tôi đẫn dường để tiến hành cuộc chiến xâm lược „ day cho Việt nam một bài học“ suốt biên giới „ hữu nghị Việt Trung“ tháng 2 năm 1979 khiến hàng van người thiệt mạng cả hai bên.
 Sống sót trở về tôi được tôn vinh như một người anh hùng và nguyện vọng được đi học tiếp của tôi ngay lập tức đựoc nâng đỡ ưu tiên. Và tôi tốt nghiệp khoa triết học Đại học Thượng hải vào 4 năm sau. Tôi được phân công vào làm cán bộ nghiên cứu ở một viện nghiên cứu lịch sử của Thành phố, chính trong quá trình nghiên cứu hồ sơ lưu trữ tìm tư liệu cho đề tài cao học về quan hệ giữa các Đảng công sản anh em tôi đã vỡ ra nhiều điều, trong đó đáng chú ý nhất la mối quan hệ giũa Trung quốc và Việt nam, cả hai nơi tôi vẫn chưa bao giờ hết tình cảm gắn bó máu thịt với mình.
Khoát tay làm một cử chỉ biểu lộ một sự chán chường, ông Lưu tiếp:
-          Càng dấn sâu trong các tài liệu chính thức hoặc không chính thức của các cơ quan lưu trữ  thì câu hỏi lớn trong đầu tôi : Tại sao hai nước anh em kề cận nhau, nhiều khi tưởng như máu thịt nghĩa tình lại đánh nhau đến sứt đầu mẻ trán đến như vậy ?   càng ngày càng sáng rõ dần đến đau đớn. Chúng ta đã bị lừa dối bằng sự bịp bơm lớn lao nhất trong lịch sử của hai nước. Cho nên, khi được ông Kim nói chuyện về các công trình của con rể ông ấy, tức của ông thưa Giáo sư Lê Huy Đông tôi thấy có nhiều điều phản biện đứng trên phạm vi học thuật và chính ông Kim cũng muốn có lúc nào đó giữa hai chúng ta có một tranh luận, vì  cũng theo ý ông ấy các nhà nghiên cứu lịch sử Việt nam cần được tương tác với một nhà nghiên cứu Lịch sử Trung hoa trong những vấn đề chung, nhưng không theo con đường của các quan điểm chính thống, và cũng vì tôi là con người xét trong chừng mực nào đó là đứng giữa hai dân tộc đều bị lừa dối thảm hại.
-         Như vây có nghĩa là chính Ba tôi đã thu xếp trứoc với ông để có cuộc gặp giữa chúng ta ngày hôm nay ?
-         Tuỳ anh nghĩ thế nào cũng được, nhưng tôi xin nhắc lại rằng: để được tranh luận với ông là một vinh dự cho tôi hiện nay và tôi không giấu giếm mong muốn làm sáng tỏ một số vấn đề cho ông, một người chính trực tài năng như ông mà sai đường quả thật là tai hại cho nhiều người lắm đó sao.
-         Thật không chịu được nữa rồi, Thưa tiên sinh ! ông lấy tư cách  gì để huấn thị tôi đây ? Ông Đông tỏ ra giận giữ vì ông cảm thấy ba vợ mình đã xem thường mình, lại còn trao vũ khí hạ thấp ông vào tay một kẻ xa lạ mà ông không biết sự uyên thâm đến đâu.
Đang im lặng theo dõi câu chuyện, ông Lương vội trấn an bạn :
-         Bình tĩnh nào Huy Đông ! Cậu phải thấy rằng lắng nghe một cách nghiêm túc cầu thị cũng là một cách tranh luận có hiệu quả đó sao. Khi ông Kim, người cha nghiêm túc của cậu đã phải dùng đến người thứ 3 tham gia vào cuộc trò chuyện phản biên đối với cậu  thì có thể có hai khả năng. Một là ông ấy thấy rằng không còn đủ lí luận cần thiết để phân biệt đúng sai với cậu, hoặc hai là cậu đã tự đánh giá mình quá cao và không còn nghe ông ấy nữa.
-          Thế có nghĩa rằng tiên sinh đây xứng đáng là bậc thầy của tôi ? Ông Đông vẫn còn hậm hực pha chút chua xót.
-         Không phải vậy, thưa Giáo sư. Tôi có một ít hiểu biết, ông Kim có một ít hiểu biết, ông có một ít hiểu biết và ông Lương đây cũng vậy, chúng ta góp chung lại trao đổi với nhau chẳng phải là mỗi một người trong chúng ta có nhiều hơn gấp nhiều lần lúc trước sao !
Trước thái độ chân tình như vậy, cố chấp nữa là lố bịch, ông Đông chấp nhận:
-         Thôi được ! Vậy thì theo ông trong các công trình của tôi có cái gì không ổn ?
-         Cám ơn ông ! Theo tôi, tuy rằng các công trình của ông là về dân tộc học nhưng trong đó ông lại đặt phạm trù dân tộc thấp hơn phạm trù tổ chức chính trị. Khi nói đến lịch sử các dân tộc, ông chỉ nhằm phân tích các thành tựu hay thăng trầm của các chính thể, phải chăng ông quên một sự thật các chính thể có biến mất hay thất bại ê chề thì bản chất bất biến của dân tộc vẫn được duy trì và khi gặp một chính thể hợp lòng dân hợp với quyền lợi của dân tộc thì nó lại thăng hoa. Chính thể nào cũng là sản phẩm của dân tộc trong một hoàn cảnh nhất định khi tương tác với nhưng yếu tố khách quan lịch sử. Nhưng phải luôn nhớ một điều, không có dân tộc thì không có bất cứ một chính thể nào cả, không một nhà nước nào tạo ra được nhân dân, chính nhân dân tạo ra nhà nước để thay họ điều hành các hoạt của các bộ máy xã hội. Khi Nhà nước phản bội nhân dân, phản bội dân tộc mà nó đại diện thì nó trở nên độc tài và tất yếu chẳng chóng thì chầy sẽ bị lật đổ để nhường chỗ cho nhà nước khác. Nhà nước có thể sai, nhưng dân tộc chỉ có thể mù quáng nhất thời do bị lợi dụng chứ không có thể sai được. Dân tộc Đức là một ví dụ tiêu biểu, không ai có quyền gọi dân tộc Đức là dân tộc phát xít cả.
 Điều thứ hai nữa, ông lại đưa giai cấp đặt trên dân tộc khi ông cho rằng quá trình hoạt động của một tổ chức đại diện cho một vài giai cấp trong xã hội là lịch sử  của dân tộc , vô hình dung ông lại lập lại cái tư tưởng chủ đạo của một học thuyết mà hiện nay càng ngày càng bị thực tiễn chứng minh là phiến diện và lạc hậu, xem xét xã hội loài người chủ yếu trên nguyên tắc quan hệ quan hệ sản xuất, chỉ có người bóc lột và người bị bóc lột, giữa các giai cấp và bản chất thăng trầm lịch sử loài người là diễn tiến của các hình thức thái quan hệ có tính xung khắc đó. Thực chất phân chia đó chỉ là tương đối có tính tam thời, sự tráo trở vai trò của nó nhiều khi chỉ trong một thời gian rất ngắn. Khi tổ chức của giai cấp lao đông chân tay lên cầm quyền, thì lập tức với sự kém cỏi về tri thức của nó bắt đầu được bù lại bằng sức mạnh thống trị  bằng bạo lực bằng chuyên chính giai cấp, dân tộc bị rao bán mặc cả với nhau cốt là duy trì bằng mọi giá sự thống trị của tầng lớp mới biến chất thành kẻ thống trị bảo thủ ngu muội thô sơ. Hành đông triệt tận gốc trốc tận rễ trí thức chính là hành động hoảng loạn đánh vào tầm cao của Văn hoá dân tộc, trình độ văn minh của dân tộc phải chăng không phải được thể hiện qua tri thức của các các con người Trí thức sao ? Với cái cuốc cái cày, với cái kìm cái búa, cần cù chăm bẵm mưu sinh là hành động hàng ngày của  giai cấp lớp dưới, tìm đâu ra được hệ thông triết lí cách mạng, làm sao có được tâm hồn sáng tạo vươn lên trong văn hoá nghệ thuật vốn chỉ có ở những con người xem thường sự vụn vặt đời thường hướng đến đỉnh cao trí tuệ, ông có tưởng tượng được sự nghèo nàn của tri thức khi văn hoá dân tộc còn chỉ rặt những câu ca dao và hò vè như thế nàokhông ? chính những ai  cầm quyền từ nhà nước không phải của nhân dân, của dân tộc mới sợ dân chủ, họ bóp chết tất cả những gì liên quan đến dân chủ,  thì đó, có mỗi cái tổ chức dân chủ yếu xèo làm vì, họ cũng bức tử, triệt hạ đến cùng luôn. Năm 1992 họ dùng súng đạn và xe tăng để đè nát đoàn biểu tình đòi dân chủ của thanh niên, sinh viên một cách tàn bạo ở Thiên an môn. Lấy một bộ phận thành phần mới xuất hiện của dân tộc  tức giai cấp nào đó, làm giai cấp lãnh dạo  và lợi dùng bảo vệ quyền lợi của nó để tước đoạt tự do và dân chủ vốn là quyền lợi của cả số đông còn lại của dân tộc, ông không thấy vô lí lắm sao ? Lịch sử của cái tổ chức đó sao lại gọi là lịch sử  cận đại của dân tộc được ?
-         Nhưng một sự thực không thể chối cãi được là chính ở một số nước tổ chức chính trị đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân làm cuộc cách mạng dân chủ thắng lợi, giành độc lập cho dân tộc. Chính tổ chức chính tri đó và nhà nước Cộng hoà dưới sự điều hành của các thành viên ưu tú của nó đã đưa dân tộc chiến thắng giặc ngoại xâm, vượt qua rất nhiều khó khăn để có một đất nước, dân tộc như hiện nay.  Tổ chức chính trị đó trong nhưng năm tháng vừa qua đã quyện chặt với dân tộc, làm sao có thể tách rời một khối thống nhất hoà lẫn như vậy khi nói về lịch sử của đất nước được.
-         Ông đã rất đúng, trong cuộc cách mạnh giải phóng dân tộc quyền lợi và mục tiêu của một tổ chức đại diện cho một nhóm thiểu số đó phù hợp với quyền lợi của dân tộc. Để thành công tiến trình lịch sử đi đến độc lập của dân tộc không thể thiếu được người lãnh đạo và bộ tham mưu tài năng của nó, nhưng ông cho rằng có những tổ chức của một tập đoàn người nào đó ở một số nước đã khởi xướng cách mạng giải phóng dân tọc ở đó, tôi e rằng ông quên mất phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc là tiến trình tất yếu trong lịch sử tiến hoà của xã hội loài người và  nó nằm trong dòng chảy phát triển của dân tộc khát khao độc lập tự do và đã dâng cao dần thành cao trào trước khi tổ chức chính trị nào đó ra đời rất lâu rồi. Tôi nghĩ rằng về điều đó ông nắm rõ hơn tôi, nhưng phải công nhận những người chủ trương khuynh hướng chính trị mới lúc đó đã có một tổ chức rộng lớn, đã có thực lực đáng kể trên qui mô quốc tế và việc một chi bộ của nó ở một nước chớp thời cơ nhảy vào cuộc đúng thời điểm một cách tài tình thì không có gì là lạ cả. Tuy  cùng một đường đi, một chiến tuyến nhưng mục tiêu của tổ chức khuynh hướng chính trị mới không trùng với mục tiêu của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc: Nhân dân theo cách mạng là tìm đến tự do và dân chủ, lật đổ một chính thể đã lỗi thời không đảm bảo cho họ thực thi tự do và dân chủ để lập nên chính thể Nhà nước mới của họ, bảo vệ cho họ tốt hơn, trong khí đó cương lĩnh của tổ chức mới là cướp chính quyền để thiết lập một sự thống trị mới của một nhóm người, cứ cho là họ đều là một bộ phận ưu tú của nhân dân, chuyên chính với tất cả số đông còn lại, một Nhà nước tự nó không còn là của nhân dân lựa chọn, một Nhà nước chuyên chính của một thiểu số người đã được áp đăt ngay từ khi chưa tiến hành thành công cách mạng, Nhà nước đó sợ hãi quyền dân chủ của nhân dân là phải thôi, dân chủ tự do đâu phải là thứ được ban phát, đó là quyền của của con người và nhà nước là hệ thống hành chính pháp luật đảm bảm cho tất cả mọi người bất kể giàu nghèo, bất kể chính khiến nào, bất kể dân tộc nào, giai cấp nào đều có quyền hưởng nó một cách cao nhất mà không ảnh hưởng đến người khác. Mỗi một công dân đều có quyền có tự do, dân chủ và để hưởng nó trong cộng đồng người một cách hiệu quả nhất họ trích một phần vốn tự do dân chủ của mình tự nguyện góp chung với nhau lập nên các tổ chức lập pháp, hành pháp… đó là Nhà nước dân chủ, một Nhà nước dân cử vì dân vì tất cả mọi người chứ không biệt ai cả. Nói hoạt đông của một tổ chức chính trị mới nào đó quyện chặt với dân tộc không tách rời là đúng, nhưng trong sự gắn bó cưỡng chế đó chỉ có tổ chức mới đó, hay nói đúng hơn một nhóm cầm quyền là có lợi thôi còn dân tộc thì thiệt thòi, bằng chứng rõ ràng là sự thụt lùi của những dân tộc theo khuynh hướng chính trị tuy khác lạ, tuy mới nhưng phiến diện trên qui mô thể giới trong suốt gần một thế kỉ vừa qua thì rõ thôi.
Ông Lưu dừng lại, tỏ ra bối rối vì sự độc thoại của mình:
-         Xin lỗi hai ông, có lẽ tôi hơi quá xúc động ?
Trong khi ông Đông im lặng, bạn ông đặt ra cho ông Lưu một câu hỏi:
-         Không sao ông bạn ạ ! Nhưng ông có thể cho chúng tôi biết là với tư tưởng như vậy ông đã truyền bá nó như thế nào trong một đất nước độc tài như nước ông ? Ông dã gặp phải nhưng khó khăn gì ?
-         Trước khi trả lời câu hỏi của ông, vì ông nói đến nước Trung hoa công sản nên tôi phải làm sáng tỏ nó cái đã. Như tôi đã nói ở trên, chính trào lưu làm cách mang giải phóng dân tộc trong khi mà chủ nghĩa công sản trở thành lực lượng hùng hậu và có hiệu quả to lớn khiến hai phong trào đó chúng bị cuộn chặt vào nhau một cách tự nhiên hoặc ép buộc cưỡng chế. Các nước khác nhau thì cái thời lượng theo đuổi lí tưởng cộng sản sau khi nắm được quyền lực có khác nhau. Ơ Trung quốc thực chất ngay khi thành lập Cộng hoà nhân dân Trung hoa 10.10.1949 Mao Trạch Đông đã theo đuổi chủ nghĩa dân tộc còn cái áo cộng sản thì ông ta dùng để tạo dựng quyền lực bằng công cụ chuyên chính vô sản ở trong nước, trấn áp không cần pháp luật là ưu điểm tạo nên quyền hành vô địch của kẻ nắm được nó. Trong Cải cách ruộng đất, trong Cách mạng Văn hoá hàng triệu người Trung hoa bị giết chóc, tù đày, đấu tố mà không bao giờ được một toà án nào thực thi hành trình tự tố tụng công minh theo pháp luật cả. Còn đối ngoại, trong khi các nhà lãnh đạo của các nước xã hội chủ nghĩa khác hồ hởi vì mình là một mắt xích trong khối công sản anh em, sáng rực tinh thần quốc tế vô sản thì những người đồng chí anh em của họ đang tìm mọi cách tăng cường vị thế của Trung quốc trên thế giới và ở Geneve họ đã đi đêm rồi trắng trợn bán đứng thành quả chiến đấu trên chiến trường của Viêt nam, mục tiêu là để tạo lập mối quan hệ với chính kẻ thù của những người mà họ lúc nào cũng gọi là đồng chí. Nhân dân Việt nam thua thiệt lại tiếp tục sa vào cuộc chiến tranh 20 năm do họ chỉ đạo cung cấp vũ khí, Mao  Trạch Đông đã hùng hỗ tuyên bố một cách tàn nhẫn “ Trung quốc quyết đánh Mĩ đến người  Việt nam cuối cùng” mà những người cộng sản Việt nam vẫn hồ hỡi tự hào hăng say cầm súng làm bia đỡ đạn để họ yên tâm xây dựng đất nước.  Còn ở các nước nhỏ hơn, khác với Chủ nghĩa cộng sản ở Trung quốc, Chủ nghĩa công sản ở đó mang hơi hướng của sự cuồng tín, giáo điều và cố chấp, người ta sẵn sàng hi sinh quyền lơi dân tộc để cũng cố khối bền chắc của hệ thống chính quyền cộng sản quốc tế và sự độc tài tư tưởng của chính họ. Sự thực tự diệt chủng của Khơ me Đỏ theo đường lối xây dựng xã hội công sản một cách kì cục là một ví dụ đầy đau thương cho nhìn nhận này.
Trong một đất nước có chính sách chính trị pha trộn chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sự độc tài tàn bạo kiểu phong kiến và chủ nghĩa công sản hình thức, thì đất sống của các tư tưởng cấp tiến là cực kì khó khăn và nguy hiểm. Nhưng cũng chính cách  trộn lẫn salat đó cộng thêm việc liên tục đấu tố sai đúng lẫn lộn và sự lên xuống của các lãnh tụ, các bè phái ngay chính trong lòng Đảng công sản, nên các nhận thức luôn được đạt trong trạng thái tranh luận học thuật, thẩm định ai đúng ai sai liên tục để biệ hộ cho sự thăng trầm chính trj đó. Như tôi đã nói, cuộc chiến xâm lược Việt nam năm 1979 cũng làm nổi cộm lên câu hỏi cần giải đáp trong đầu tôi và giới nghiên cứu của lịch sử cũng như triết học công sản ở Trung quốc khi đó là một thí dụ.
Còn chúng tôi đã bị trả giá như thế nào thì chắc các ông không thể nào không biết về cuộc đàn áp đẩm máu bằng súng đạn, xe tăng ở Thiên an môn đối với sinh viên trí thức đấu tranh đòi dân chủ vào năm 1992. Hàng ngàn người bỏ mạng, trong đó có người vợ, người đồng chí thân yêu của tôi. Tù đày và truy bức khiến tôi và biết bao người khác không bao giờ sống yên trên chính mảnh đất Tổ quốc thân yêu của mình, chúng tôi bị xua đuổi chậy trốn cho đến bây giờ, ở đây nhiều khi tôi vẫn còn linh cảm thấy nguy hiểm rình rập đâu đây.
Tiếng kinh cong phát ra từ chiếc chuông treo trên góc phòng làm cắt ngang câu chuyên của 3 người đàn ông. Trong khi hai vị khách nhìn ra phía cửa thì chủ nhà đã rời chỗ ngồi đi ra phía trước, lát sau ông quay vào cùng với một thanh niên:
-         Ông Đông, đây là Tuấn, con trai người bà con của ông. Đêm qua tôi đã báo cho cậu ta là ông đến chơi, và hẹn sáng nay đến gặp ông ở đây.
Ông Đông  đứng dậy chìa tay:
-         Chào cháu, ngồi xuống đây đi cháu
-          Cháu nge tin chú đến nhưng cháu nghĩ chú vừa đi đoạn đường khá xa, sáng nay chắc là dậy muộn, nên bây giờ cháu mới đến chào chú . Ông bà ở Paris có khoẻ không ạ ?
-         Ba chú không được khoẻ lắm. À ! giới thiệu với Tuấn, Chú Lương bạn chú đây cũng ở bên Đức này.
-         Chào chú ! Chú ở thành phố nào bên này ?
Vừa trả lời về thành phố mình sinh sống, ông Lưong chợt nghi ngại khi bắt gặp cái nhìn sắc sảo dò xét của người đối diện.Cách ăn mặc, đầu tóc cạo trọc của cậu ta cộng với cảm giác bị dò xét làm cho ông hết hứng khởi trò chuyện, lấy cớ tế nhị tránh cho bạn mình trò chuyện thoải mái, ông đứng dây ra ngoài phòng đi đến bên ông Lưu nãy giờ đang lánh ra lúi húi dọn dẹp gì đó bên quầy Bar.
-         Nhà hàng của ông đẹp quá, chắc ông đầu tư nhiều tiền lắm vào đây phải không ?
-         Chúng tôi vẵn còn nợ nhiều vì nó đấy, may là tiền của chú Sáng nên cũng trả dần được. Khi sang đây mở nhà hàng này theo ý kiến của ông ấy vợ chồng tôi chẳng có vốn liếng là bao cả, bà vợ tôi muốn xin tiền vốn từ ba mẹ ở Hồng kông, nhưng tôi không cho. Sĩ diện của trí thức mà.
-         Với lượng khách như tôi thấy hôm qua thì chắc chẳng mấy chốc là hoàn vốn thôi.
-         Thì tôi cũng nghĩ vậy. Chúng tôi cũng phải gắng nhiều, nhất là vợ tôi cô ấy giành làm rất nhiều việc mà đáng lí phải thuê, ngay cả cháu bé cũng không có người trông nom cứ phải theo ba mẹ xuống nhà hàng cả ngày, kể cũng tội. Ông buôn bán có thuận lợi không ?
-         Thì cũng như ông thôi , chúng tôi phải làm rất nhiều nhưng những năm gần đây càng khó kiếm tiền hơn trước. Và cũng như ông, bà vợ tôi cũng phải bao biện rất nhiều, chứ tôi thì là kẻ bất tài trong kinh doanh.
Hai người trao đổi với nhau về thuế má, những rắc rối hành chính và về những tâm tư của mình trong hoàn cảnh sống tha hương trong một thời gian khá lâu cho đến khi hai chú cháu ông Đông đến bên họ:
-         Ông Lưu này, sáng nay chúng tôi làm phiền ông đến giờ này là đủ. Cháu Tuấn đây có mời chúng tôi đi ăn trưa, ông thấy thế nào ?
-         Vậy cũng được. Nhưng tối nay chúng ta lai gặp nhau được không ?
Liếc mắt nhìn ông Lương dò hỏi, thấy bạn tỏ vẻ đồng tình đồng tình, ông Đông hứa sẽ sang gặp lại ông Lưu tai đây vào buổi tối. Chủ nhà nhắc:
-         Đừng ăn trước nhé, tối nay tôi sẽ chiêu đãi hai vị đấy.
 Chàng thanh niên dùng xe đưa hai người khách lên một thành phố gần đấy bằng một chiếc BMW 318 mới tinh. Sau một hồi vòng vèo qua các đường phố tấp nập xe cộ đủ các loại, mà chiếm phần lớn là Volkwagen, Mercedes và BMW của chính nước sở tại sản xuất, 3 người dừng xe trước một căn nhà trông như một nhà kho lớn mộc mạc, tường ngoài lộ rõ nhưng thanh gỗ mộc chằng kết nhau, một cách xây nhà từ thửa xa xưa của châu âu.
Bước qua khung cửa có tấm vải thô nặng treo làm rèm che khí lạnh từ bên ngoài họ lọt vào một quán bier tươi tự nấu, một loại quán ăn uống phổ biến ở nước Đức vốn nổi tiếng về thức uống lên men này. Không gian rộng lớn của căn nhà rộng kê san sát những bộ bàn ghế gỗ mộc thô kệch một cách cố ý bên dưới trần nhà treo thõng xuống các bó cây có hoa khô làm men bier – hoa Hublong. Cuối phòng là những thùng lớn bằng đồng đỏ thắt phía trên hình chóp, đó chính là các thùng ủ bier tự chế của quán, bier tươi từ đó được dẫn thẳng ra quầy để rót thẳng vào cốc cho khách.
Trong khi thưởng thức hượng vị thơm ngọt của thứ nước uống lên men từ lúa mạch này và món Haxen đùi lợn quay ăn với dưa bắp cải chua thái nhỏ, ông Đông tiếp tục thuyết phục chàng thanh niên về nguyện vong gia đình cậu ta. Nhưng ông Lương nhận thấy bạn mình không thể đạt được kết quả gì qua thái độ hờ hững của người nghe và nhất là qua cách tiêu xài và phong cách trò chuyên của cậu ta. Chiếc xe hạng đắt tiền mới tinh, quần áo hợp thời trang của hãng Boss, giày Lloyd, thắt lưng LV… mới chứng tỏ cậu không thiếu tiền, nhận xét đó làm ông Lương khá ngạc nhiên vì nó không hợp với đồng lương phụ bếp của chủ nhân nó, mặc dù anh ta có độc thân không phảỉ chi tiêu nhiều cho vợ con như người khác, rõ ràng là ông cháu này có khoản thụ nhập nào khác, có khi còn lớn hơn đồng lương làm việc của cậu ta.
-         Vừa rồi ông chủ của cháu trò chuyện gì với hai chú mà say sưa vậy ? Cháu nghe đâu ông ta là người có học vấn cao lắm chạy từ nội địa Trung quốc sang đây thì phải ?
Ông Đông  hơi có vẻ ấm ức trẻ con:
-         Ông chủ của cậu cứ như là một triết gia tự phụ vậy. Nhưng cũng phải công nhận hiểu biết của ông ta cũng không đến nỗi tồi, nhất là ông ta diễn đạt những vấn đề hóc búa kinh tế chính trị bằng tiếng Việt  cũng khá rõ ràng, mạnh bạo. Những tư tưởng như vậy mà sống ở Trung quốc lục địa hoặc ở Việt nam thì chắc chắn chẳng chóng thì chầy sẽ gặp rắc rối thậm chí phải vào tù ấy chứ.
-         Cậu làm sao vậy ? Mình thấy ông Lưu là một người đáng kính trọng đấy chứ, cậu chẳng thấy ông ta đã dũng cảm đấu tranh cho lẽ phải đén phải chịu mất mát cả vợ con, bản thân thì bị tù tội truy bức phải trốn chạy đấy ư ? Một con người như vậy không có nhiều đâu.
-         Thì … thì … hoàn cảnh một người một khác. Vơi lại những gì ông ta nói có gì mới đâu, chỉ vì người ta chưa dám nói mà thôi.
-         Vấn đề chính là chỗ đấy, Lưu tiên sinh hơn cậu, hơn tớ hơn nhiều người khác là chính ở sự suy nghĩ đúc rút thành nhận thức sâu sắc và mong muốn truyền bá nhận thức đó cho nhiều người khác nữa. Chính là chỗ ấy đấy.
-         Về thái độ hành xử của chính quyền Bắc kinh đối với Việt nam, giới nghiên cứu Lịch sử chúng mình đã cung cấp cho các cấp lãnh đạo nhiều bằng chứng cũng như phân tích đánh giá có giá trị đó thôi.
-         Nhưng từ khi nào ?
-         Tháng 10 năm 1979 nhà xuất bản Sự thật, Hà nội đã công bố một cuốn sách “ Sự thật về quan hệ Việt nam – Trung quốc trong 30 năm qua”  tổng kết một cách toàn diện về quan điểm và thái độ của nhà cầm quyền Bắc kinh từ khi mới ra đời của nước Công hoà nhân dân Trung hoa đối với nước ta.
-         Nghĩa là sau khi họ ngang nhiên gây chiến xâm lược Viêt nam vào ngày 17 tháng 2 năm 1979, còn trước đó thì sao ? Theo tớ biết thì các nhà lãnh đạo Việt nam đã nhận ra chân tướng của người anh em nước lớn từ trong cuộc đàm phán tai hội nhị Geneve 1954, phải ngay từ lúc đó. Thế mà cuộc chiến 1979 phia Việt nam hoàn toàn bị bất ngờ, bị động , không có một tin tức tình báo nào cho biết ngày giờ, lí do và qui mô của cuộc tấn công để chuẩn bị cả, vì sao vậy ? Những tài liệu sau này cho thấy họ đã có một sự chuẩn bị cuộc chiến một cách hùng hậu trong một thời gian khá dài: có dấu hiệu cho  thấy lãnh đạo Trung Quốc quyết định “dạy Việt Nam một bài học” vì thái độ “vô ơn và ngạo mạn” tại phiên họp hàng tuần của Bộ Chính trị vào đầu tháng 07/1978. Tháng 09/1978 một cuộc họp về “làm thế nào giải quyết phần lãnh thổ của chúng ta đang bị lực lượng Việt Nam chiếm đóng” được tổ chức tại Bộ Tổng Tham mưu Quân đội giả phóng nhân dân Trung quốc (PLA). Trọng tâm ban đầu là cuộc xung đột biên giới, vốn được xem là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng leo thang căng thẳng giữa hai quốc gia kể từ năm 1976. Một đề xuất thăm dò là nên có hoạt động qui mô nhỏ tấn công một trung đoàn Việt Nam ở Trùng Khánh, một huyện biên giới tiếp giáp tỉnh Quảng Tây. Tuy nhiên, rà soát sau đó về thông tin tình báo mới nhất cho hay Việt Nam chuẩn bị tấn công Campuchia, hầu hết các thành viên tham gia đều cho rằng bất kỳ hành động quân sự nào cũng phải có tác động đáng kể lên Hà Nội và tình hình Đông Nam Á. Họ đề nghị tấn công một đơn vị bộ đội chính qui Việt Nam trong phạm vi địa lý rộng lớn hơn. Tuy cuộc họp kết thúc mà không đi đến bất kỳ quyết định cụ thể, nó đã dọn đường cho kế hoạch chiến tranh sau này của Trung Quốc đối với Hà Nội, và có thể đây là bằng chứng đầu tiên liên hệ hành động quân sự trên biên giới Bắc Việt với sự gây hấn của Việt Nam ở Đông Nam Á.
 Tuy nhiên, hoạt động quân sự qui mô lớn đối với Việt Nam có thể ảnh hưởng đến hình ảnh quốc tế của Trung Quốc trong khu vực và trên thế giới. Chuyến viếng thăm chính thức của Đặng Tiểu Bình đếnThái Lan, Malaysia và Singapore vào đầu tháng 11 đã trao cơ hội tìm kiếm sự ủng hộ của những nước này đối với chính sách Việt Nam của Trung Quốc. Trong chuyến đi của mình, Đặng gây dấu ấn với các chủ nhà nước ngoài rằng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực chống lại sự gây hấn của người Việt nếu Việt Nam tấn công Campuchia. Trong nước, truyền thông có đầy ắp những bài xã luận cùng bình luận lên án Việt Nam xâm lấn lãnh thổ Trung Quốc và cảnh báo khả năng xảy ra hành động trả đũa
Ngày 23/11 Bộ Tổng Tham mưu triệu tập một cuộc họp khác nhằm thảo luận kỹ kế hoạch chiến tranh mới. Cân nhắc các đề xuất trước đó, Bộ Tổng Tham mưu quyết định mở rộng phạm vi và thời hạn tác chiến. Kế hoạch là sẽ tấn công mọi vị trí quân sự và thành phố trọng yếu của Việt Nam dọc theo biên giới Quảng Tây và Vân Nam, dự kiến kế hoạch này sẽ ngăn chặn việc gây hấn của người Việt. Một lần nữa, một số người đã cho rằng những hành động này chưa đủ tầm vì vẫn giới hạn tại khu vực xa xôi hẻo lánh, không trực tiếp đe dọa Hà Nội. Tuy nhiên họ không phản đối vì cho rằng lãnh đạo trung ương đã xem xét tỉ mỉ vấn đề này. Cuộc họp chỉ định hai Quân Khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch. Cuộc họp còn đề nghị điều lực lượng phòng bị chiến lược của PLA, tổng cộng gồm bốn quân đoàn và một sư đoàn, từ Quân Khu Vũ Hán và Thành Đô đến tăng cường cho mặt trận Quảng Tây và Vân Nam.
Ngày 07/12 Quân Ủy Trung ương (CMC) triệu tập cuộc họp, được cho là đã kéo dài 4 – 5 giờ, và quyết định tiến hành cuộc chiến hạn chế trên miền biên giới phía Nam Trung Quốc nhằm “đánh trả” Việt Nam. Ngày hôm sau CMC ra lệnh cho hai Quân Khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch, quân đội phải sẵn sàng tác chiến vào ngày 10/01/1979. Mệnh lệnh xác định rõ rằng cuộc chiến có tính chất hạn chế nghiêm ngặt, tiến hành trong vòng 50 cây số tính từ biên giới và kéo dài hai tuần. Sau đó CMC tiếp tục nhấn mạnh nguyên lý cốt lõi của học thuyết tác chiến truyền thống PLA, yêu cầu hai bộ tư lệnh quân khu phải “tập trung lực lượng áp đảo nhằm bao vây các lực lượng quân địch từ bên sườn, tiêu diệt từng lực lượng một bằng lối đánh nhanh, rồi lập tức rút lui.” Thời điểm của mệnh lệnh này cho thấy Trung Quốc đã phản ứng lại tình hình Việt Nam chuẩn bị tấn công Campuchia, song việc tiến hành chiến dịch quân sự qui mô lớn thậm chí trước khi lực lượng Việt Nam vượt sông Mekong còn thể hiện phản ứng sau nhiều năm tức giận vì hành vi vô ơn của Việt Nam.
Tại hội nghị CMC vào đêm giao thừa dương lịch, Đặng chính thức đề xuất cuộc chiến trừng phạt Việt Nam. Mọi thành viên tham dự, kể cả Hoa Quốc Phong, chủ tịch CCP, đều được cho là đã ủng hộ đề xuất này. Tại cuộc họp, Đặng bổ nhiệm Hứa Thế Hữu chỉ huy hoạt động từ Quảng Tây phía Đông, Dương Đắc Chí, tư lệnh Quân Khu Vũ Hán, chỉ huy hoạt động từ Vân Nam phía Tây, không dùng Vương Tất Thành, tư lệnh Quân Khu Côn Minh. Rõ ràng lo ngại về sự thay đổi chỉ huy ngay trước cuộc chiến, Đặng sau đó đã gửi hai trợ tá của mình đến Côn Minh giám sát việc chuyển giao và chuẩn bị chiến tranh. Không có lãnh đạo chung, hai quân khu sẽ độc lập tác chiến và hầu như không có bất kỳ hoạt động điều phối hoặc hợp tác nào. Hội nghị còn nhắc lại rằng cuộc xâm lược phải nhanh gọn và toàn bộ quân đội phải rút lui sau khi hoàn thành mục tiêu tác chiến. Một trong những truyền thống tác chiến của PLA là sử dụng lực lượng áp đảo tuyệt đối để cầm chắc chiến thắng. Đến giữa tháng 01/1979, hơn một phần tư bộ binh PLA đổ về biên giới Trung – Việt, tổng cộng hơn 320.000 quân.
Ngày 11/02/1979, hai ngày sau khi Đặng Tiểu Bình trở về sau chuyến viếng thăm Hoa Kỳ và Nhật Bản, hội nghị Bộ Chính trị mở rộng đã được triệu tập. Đặng nêu rõ lý do căn bản của cuộc tấn công Việt Nam và sau đó mệnh lệnh tấn công Việt Nam ngày 17/02 đã được gửi đến tư lệnh quân đội địa phương ở Quảng Tây và Vân Nam.

   Những tư liệu này mình đọc được  trong bài viết “Một đánh giá lại cuộc chiến Việt – Trung 1979 “ của Trương Tiểu Minh một nhà nghiên cứu người Hoa.

  Như vậy là không có một tin tức tình báo nào về những chẩn bị toàn diện quân sự , ngoại giao của Trung quốc cho các nhà lãnh đạo Việt nam, hay họ ngây thơ cho rằng người bạn lớn mãi mãi là người bạn lớn xã hội chủ nghĩa cùng lí tưởng với mình, không bao giờ phản bội  nhau nên không cần cảnh giác thu thập tình báo, một loại hình hoạt đông rất có hiệu quả trong cuộc chiến chống Mĩ. Mặc dù năm 1954 ở Geneve họ đã công khai và trắng trợn phản bội Việt nam, có rất nhiều bài viết nước ngoài cho biết các lãnh đạo Việt nam lúc đó nhất là Chủ tịch Hồ chí Minh và người trực tiếp Kí hiệp định, mà thành công của nó rất hạn chế so với mong muốn của ông, đó là Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đã nhận thấy. Bài học ngây thơ, ảo tưởng và cũng là bảo thủ cố chấp về lí tưởng chính trị quốc tế trên quyền lợi dân tộc mãi mãi vẫn còn đó, phải không nào, Giáo sư ?
-         Nói ở đây thì được, chứ bọn  mình  có nhận thức được điều đó cũng chẳng để làm gì cả.
-         Thật vậy, bài học của Lưu tiên sinh là chẳng ai đang sống trong một đất nước phi dân chủ dám làm gì một  khi các  thế lực ghê gớm  luôn chế ngự con người, đè bẹp mọi manh nha phanh phui sự thật trong một đất nước tự do tư tưởng cũng bị cấm đoán, vì thiệt thòi không chỉ cho họ mà còn liên quan đến số phận của bao người thân khác nữa của họ. Cứ cái đà này thì lịch sử hôm qua biết đâu lại là hiện thực của tương lai, và thiệt thòi vẫn mãi thiệt thòi cho dân tộc thôi, nếu không một ai dám nhận thức và cảnh báo, ngăn ngừa.
Hai người ngưng lại im lặng uống, không muốn trao đổi gì nữa vì họ  đều tránh làm đau lòng nhau thêm nếu đào sâu nỗi bất lực của mình. Tuấn nãy giờ vẫn chăm chú nghe hai bậc lớn tuổi tranh luận rồi đột nhiên im lặng một lúc lâu, bỗng nhiên gợi thêm vấn đề dương muốn khai thác thêm hai bậc trí thức bất đắc chí, chán nản:
-         Ông chủ của cháu có khi nào cho hai chú biết rằng ông ta đang nắm giữ trong tay một tài liệu cực kì bí mật nào đó không ?
Câu hỏi của chàng thanh niên làm cho cả hai ông già không hiểu ra ngay được vấn đề:
-         Chú chưa hiểu ý cháu muốn nói về bí mật nào, tuy nhiên các chú mới gặp gỡ và mới chỉ ngồi tranh luận một chốc vào sáng nay nên không dễ dàng được ông ta thổ lộ một điều gì được gọi là bí mật cả, Những suy nghĩ mạnh bạo, một vài nét sơ lược về cuộc dời theo chú, khi đã sang sống ở đất châu Âu này rồi thì chẳng đáng quan trọng để phải dấu diếm, phải không ông Lương ?
-          Dựa vào kinh nghiệm của mình tôi cũng cho là như vây. Ông Lương khẳng định.- Nhưng vì sao cháu lại hỏi như vậy ?
-         À … à thì do cháu thấy ông ta khác người quá, nên cho rằng ông ta là một nhân vật bí ẩn, muốn mai danh ẩn tích trốn tránh ai đó.
Ông Đông gật gù, tỏ vẻ tán đồng:
-         Cũng có thể lắm, với một đầu óc uyên thâm,phân tích sâu sắc như vây, lại có những môí quan hệ thân thiết với những nhân vật có thế lực, có trọng trách ở Trung quốc như ông ta đã kể ra cho hai chú sáng nay. Rất có thể trước đây ông ta đã vươn lên một vị trí đặc biệt nào đấy, và do đó ông ta có thể đã tiếp cân được những tài liệu quan trọng ít người biết đến. Nhưng chú chỉ phỏng đoán thế thôi, chứ hiện giờ hai chú chẳng biết gì cả và cũng chẳng tò mò làm gì.
Chàng thanh niên  lảng tránh sang chuyện khác:
-         Là người làm cho ông ta, thấy ông ấy nói được tiếng Việt nhiều khi muốn trò chuyện cho vui, nhưng thấy ông chủ không thích nên cháu cũng ngại. Vả lại hai chú xem, cuộc sống ở đây buồn chán lắm chúng cháu làm được đồng nào là tìm vui trong các Casino nướng sạch hết.
-         Thì cháu về nhà cưới một cô vợ cho gia đình cháu yên tâm, Cháu không muốn về thì tìm cách bảo lãnh sang đây cho có vợ có chồng, dù vất vả hơn nhưng cuộc sống không cô đơn nơi đất lạ xứ người này.
-         Không đơn giản vậy đâu chú ơi, vì thật ra cháu đã có giấy tờ đâu,
-         Chú chưa hiểu cháu nói giấy tờ gì ?
Thấy bạn mình hỏi vậy ông Lương vội giải thích thay cho Tuấn:
-         Để có thể sống và làm việc ở bên này, như mình đây chẳng hạn, phải trải qua một chặng đường xét duyệt rất dài và khó khăn của sở Ngoại kiều và nhiều khi phải thuê luật sư đệ đơn và cãi trước toà án địa phương. Khi hội đủ điều kiện, mới được cấp giấy phép cư trú, nhưng không phải loại giấy phếp cư trú nào cũng được phép kinh doanh hoặc bảo lãnh vợ con sang đoàn tụ gia đình bên này đâu. Thế Tuấn, cháu đang có giấy phép cư trú nào vậy ?
Tuấn nhỏ giọng dường như sợ có ai nghe thấy mặc dù nói bằng tiếng Viêt:
-         Cháu chưa có, cháu đang dùng giấy tờ mượn của bạn cháu.
Ông Đông tỏ vẻ hốt hoảng:
-         Ấy chết sao cháu liều vậy ?
-         Ôi không sao đâu chú ! Mafia mà sợ gì đâu !- Nhỡ buột miệng nói vây, cậu ta vội chữa lại – Không có thì làm liều vây thôi ! Nhưng chú đừng kể lại cho ba mẹ cháu biết đấy nhé, kẻo ông bô bà bô chết vì lo lắng cho cháu thì khốn. À mà này ! Chú về gặp bố mẹ cháu, bảo hộ cháu rằng: ông bà nếu có tiền,” tắc” cho cháu một ít, chứ về hẳn là cháu không chịu đâu.Về Việt nam sống khổ cháu xin bái !
Chuyện đã đến nước này biết ban mình nói thêm cũng vô ích, ông Lương vội xen vào:
-         Thôi đi ông, tụi trẻ phóng khoáng sống lâu bên này quen rồi, không thuyết phục được đâu ! Cứ để chúng nó lăn lộn khi nào tỉnh mắt ra thì kéo chúng về cũng chưa muộn.
-         Nhưng …
-         Chả nhưng gì cả, nghe mình đi mà !
-         Chú Lương ở bên này lâu rồi, tư tưởng tiến bộ, nói chỉ được là cái đúng, Thôi ! Chú Đông nghe đi là vừa !
Vơi lời lẽ ngang ngược như vậy của ông cháu, hai ông già chỉ đành chịu thua mà im lặng. Để bạn mình đỡ ngượng, ông Lương chuyển sang giới thiệu về những chùm hoa Hublong được treo trang trí ngay trên đầu họ. Dường như cũng nhận thấy mình hơi qua lố, Tuấn tham gia ngay đề tài về biêr với một sự nhiệt tình cũng hơi cường điệu một tí để khoả lấp khoảng cách giũa chú cháu mà anh ta vô tình tạo ra vừa rồi. Rốt cuộc thì khi ra về 2 người bạn được ông cháu ép uống mặt đỏ tưng bừng đã vui vẻ trở lại. Họ lăn ra ngủ không biết trời đất gì cho đến chiều tối
Khi ông Lương kéo được bạn mình dậy để quần áo chỉnh tề cùng đi sang nhà ông Lưu thì thành phố đã lên đèn từ lâu. Cả hai vợ chồng ông chủ nhà cùng cháu bé vui vẻ đón họ bên một bàn Lẩu thịnh soạn. Họ chào hỏi nhau bằng Tiếng Hoa, tiếng Đức lẫn tiếng Việt tuy có sự bất tiện nhưng vẫn rất chân tình. Khéo léo xếp ông Đông ngồi cạnh bà chủ vì cả hai có thể trao đổi bằng tiếng Hoa, ông Lương thoải mái trò chuyên với ông chủ mà chỉ cần thiết lắm mới dùng bằng tiếng Đức khi câu chuyện liên quan đến cả hai vợ chồng họ. Một điều thú vị nữa là vợ ông Lưu rất giỏi tiếng Anh vì sinh ra và lớn lên ở Hồng kông, do đó ông Đông khi bí Hoa ngữ thì không khó gì khi bổ sung bằng Anh ngữ để diễn đạt. Vừa trông con vừa tiếp khách, bà vợ tré trung xinh đẹp của Lưu tiên sinh tỏ ra là một nội tướng xuất sắc, đúng như lời giới thiệu đầy biết ơn của ông chồng trước đó, làm cho hai người khách lấy làm mừng cho người ban mới của mình khi phải chịu hoàn cảnh sống tha hương bất đắc chí.
 Sau khi  bảo vợ đưa đưa con gái đã ngái ngủ lên nhà trước, ông Lưu dẫn khách vào phòng trong dùng trái cây tráng miệng, để mặc bàn ăn bừa bộn,” sáng mai sẽ có người làm dọn dẹp”, ông nói vậy. Ông Lương thừa hiểu và thông cảm rằng, ông trí thức lưu vong này muốn có nhiều thời gian cho trò chuyện trong một dịp hiếm có như hôm nay : cùng lúc  những 2 người có trình độ nghe, hiểu và tranh luận với mình. Căn bệnh của các nhà tư tưởng bị ức chế dài ngày không biết thổ lộ cùng ai, chỉ cần có ai chích nhẹ một cái là dòng thác tri thức tuôn trào. Biết vậy, nên ông Lương châm ngòi trước, ngay khi vừa ngồi chưa ấm chỗ:
-         Thưa Lưu tiên sinh, sáng nay chúng ta đã cùng nhau tranh luận trong lĩnh vực Lịch sử  của ông Đông, còn chiều nay, theo ý tôi chúng ta chuyên sang món ăn chính mà ông cho biết là chuyên môn của ông đó là Triết học. Liệu trong lĩnh vực hóc búa này ông có phát hiện gì mới để chia sẻ cùng chúng tôi không ? Ông Đông đây chắc cũng rất hứng thú tranh luận vói ông trong lĩnh vực này, phải không nào ?
-         Tất nhiên rồi ! Tát nhiên rồi ! Ông Đông vừa bóc một trái nhãn chìn mọng, quà của ông Lưu Sáng mà ông đã trao cho cháu ông ta tối hôm qua, vừa gật gù tán thưởng.   
Ông chủ lịch thiệp:
-         Thế chúng ta bắt đầu từ vấn đề gì ? Thưa hai vị !
-         Sáng nay chúng ta có nói về vấn đề quan hệ giữa các thể chế chúng trị và dân tộc. Thông thường, theo tôi nghĩ chính các thể chế chính trị của một nước nào đó là bộ mặt của dân tộc đó trong quan hệ đối nội cũng như đối ngoại. Lịch sử hoạt động lãnh đạo của thể chế chính trị quyết định sự thành bại của đất nước hay nói trừu tượng hơn là của dân tộc trong tiến trình phát triên tương quan với các dân tộc khác. Không thể tồn tại phạm trù dân tộc chung chung được, nó phải được cụ thể hoá bằng một đất nước, tức nó có tính cụ thể và hữu hạn bắng ranh giới lãnh thổ, cấu trúc của hệ thống chính quyền tức Nhà nước và các cơ quan lãnh đạo, hành pháp của nó, hệ thống hoạt đông kinh tế đảm bảo đời sống của nhân dân, tức các cá nhân thành viên của xã hội … Tuy ở các nước hướng đến mô hình xã hội chủ nghĩa còn nhiều điều bất cập, nhưng xét về lối đi cho dân tộc hướng đến hạnh phúc, thì phần nào nó đã đấp ứng của nguyên vọng nhân dân, thực trạng tụt hậu dẫn đến tan vỡ  chỉ vì có sự yếu kém trong quản lí nhà nước của các con người lãnh đạo cụ thể mà thôi. Vấn đề trong các nước đó là cần người tài, một bài học rõ ràng ở ngay trong trường hợp của Singapore với Lý quang Diệu, hay ở Nhật bản với Minh trị duy tân, hay ở Trung quốc hiên nay cũng vây, không thể phủ nhận được vai trò lãnh đạo có hiệu quả của các cán bộ cao cấp hiện nay ở các nước đó.
Ông Đông định phát triển quan điểm của mình bằng những những dẫn chứng về sự yếu kém lãnh đạo nhà nước do không được đào tạo bài bản, thiếu kinh nghiệm và bệnh duy ý chí giáo điều của chính phủ các nước khối xã hội chủ nghĩa trước đây dân đến sự sụp đổ không tránh khỏi của nó. Nhưng có lẽ thấy rằng đối với đối tượng sắc sảo như ông Lưu, chỉ cần nêu như vậy là đã đủ rồi. Nhưng ông không ngờ chính ban ông, tuy không chuyên sâu trong lĩnh vực này lại là người tiếp lời ông  trước khi ông Lưu còn đang chậm rãi cân nhắc sự phản biện của mình:
-         Theo mình, cách đặt vấn đề của cậu là bao biện cho sự yếu kém của cả một hệ thống, vốn không chỉ cá biệt ở mỗi một nước hay một nhóm cầm quyền nào cả. Theo mình, sự việc phải tìm là ở nền tảng lí luận của nó , tức nền tảng lí thuyết triết học đước lấy làm hòn đá tảng cho tất cả mọi hoạt đông chính trị kinh tế văn hoá xã hội trong suốt các giai đoạn từ khi  phát động cách mang giành chính quyền, cướp được chính quyền đẻ rồi thành lập nhà nước theo kiểu của mình, rồi những lúng túng yếu kém thậm chí hỗn loạn trong điều hành nhà nước và cuối cùng là sự sụp đỗ có tính dây chuyền của nó. Phải chăng nền tảng triết học của họ đã thiếu đúng đắn hoặc chí ít ra là phiến diện khi khái quát hoá tiến trình phát triển của xã hội loài người chỉ dựa trên các mâu thuẫn giữa các tập đoàn người. Học thuyết đó do thiếu vắng sự tham gia của con người cụ thể, đánh giá thấp “cái tôi” so với “cái chúng ta”, không thấy rằng, nếu khong phải mỗi một các nhân người đã trích một phần nhỏ trong “cái tôi” của mình góp cho nhau thì “cái chúng ta” chẵng bao giờ có cả, nên chính cái nhà nước đã trung thành một cách máy móc tư tưởng này đã không tôn trọng con người, tộn trọng tự do về mọi mặt của con người cụ thể và xem một nhóm người này là ưu thế tuyệt đối để chuyên chính với các nhóm người khác còn lại của dân tộc, dùng sức mạnh của bạo lực để xây dựng nhà nước của một nhóm người và điều hành Nhà nước như là của chiếm hữu tuyệt đối trong tay một tổ chức chính trị độc tài, biến nhà nước đó không còn của toàn dân nữa. Thiếu cái gốc cơ bản như vậy thì hòng làm sao mà thành công được. Tóm lại cuộc cách mạng mà nền tảng triết lí tập hợp lực lượng bằng phân loại quần chúng này đối lập với quần chúng khác, con người này đối lập với con người khác, lôi kéo họ thành lập các chiến tuyến đấu tranh bắng lý luận  đấu tranh giai cấp một mất một còn, lí luận vận động đấu tranh giành quyền lực như vậy  là thủ thuật rất có hiệu quả, và càng tuyệt vời hơn là dựa theo kinh nghiệm tôn giáo  học thuyết đó còn  hứa hen mội thiên đường đẹp đến không tưởng cho quần chúng làm mục tiêu đấu tranh. Bằng một động lực đẩy ở hạ tầng cơ sở và một lực kéo siêu hạng ở cấu trúc thượng tầng, dòng người lao động vốn thật thà cả tin bị cuốn hút vào dòng chảy hút hồn đó là không cưỡng nổi và những người phát động cưộc chiến đó đạt được thành công gần như là  điều tất yếu. Nhưng chính học thuyết đấu tranh giữa các tập đoàn người lại không cung cấp cho các nhà cách mạng một nền tảng lí luận về phương thức lãnh đạo nhà nước một cách hiệu quả khi đã giành được chính quyền. Thực tế cũng như lí luận triết học sâu sắc cho thấy rằng đế chỉ huy dàn nhạc dân tộc người chỉ huy cần phải học rất nhiều công phu để sử dụng cây đũa chứ không chỉ bết chỉa súng và ấn cò  một cách đơn giản có tính bạo lực áp bức và cưỡng chế. Và vì không được trang bị, hay là không  có một hệ thống triết lí lãnh đạo, xuyên suốt và dúng đắn cho việc thực thi dân chủ tự do bình đẳng cho tất cả mọi người, từng cá nhân không phát triển được cái tôi của mình thì làm sao xã hội phát triển được.
Cảm thấy mình đã quá lấn sang nhiều lĩnh vực khó khăn, ông Lương nhường lời cho hai bạn bằng cách dừng lại, tự mình rót một chén nước. Nhấp một ngụm trà ướp sen thơm phức, ông quay sang chủ nhà:
-         Vậy ông Lưu, ông có ý kiến gì khác không ?
-         Không, tôi không có quan điểm khác với ông. Tôi chỉ muốn phân tích sâu vào mối quan hệ giũa Nhà nước và Nhân dân theo hướng triết lí về Khế ước xã hội.
Theo tôi, vì chúng ta trao đổi về các vấn đề xã hội, lẽ tất nhiên phải làm rõ con người, với tư cách vừa là thành viên của xã hội, vừa là kẻ điều hành  và cũng là kẻ bị điều hành trong các hoạt động chính trị  xã hội … nghĩa là phải xem con người có những phẩm chất gì khi trực tiếp sống trong một xã hội cụ thê.
 Dễ dàng thấy rằng là con người ai ai cũng yêu chuộng Tự do, ai ai cũng hăm hở tìm kiếm Tự do  trong suốt cuộc sống của mình. Khát vọng Tự do của con người chính là cội nguồn của tất cả hoạt động sống của  mọi thành viên trong xã hội loài người từ trước cho đến nay và cũng mãi mãi về sau nữa. Dù phương thức sản xuất, đời sống kinh tế cũng như khoa học kĩ thuật có phát triển cao đến chừng nào đi chăng nữa thì khát vọng sống Tự do vẫn không bao giờ mất đi, vì mất Tự do nghĩa là mất đặc tính Con người thật sự. Ý thức được Tự do, khao khát được Tự do và đấu tranh cho Tự do, cá nhân con người mới phát triển được, do đó xã hội  mà anh ta là thành viên mới phát triển  và thăng tiến được. Hành trình đi kiếm tìm Tự do trở thành bản năng sống của con người, nơi nào con người ý thức được sự mất hẳn hoạc thiếu hụt Tự do, ở đó khát vong tìm kiếm đấu tranh cho Tự do sẽ nảy nở và càng trở thành hoạt động chính yếu phỏ biến. Chính tiền đề đó tạo nên phản kháng, không một con người nào hoàn toàn yên phận sống trong sự áp chế nô dịch của người khác và không có Dân tộc nào cam chịu sự kềm kẹp của một Dân tộc khác. Và nếu Trái đất một ngày nào đó bị xâm lược và thống trị bởi một loài sinh vật khác đến từ một thế giới ngoài Trái đất, lẽ tất nhiên sự hợp lực của toàn thể loài người không còn ranh giới dân tộc để chiến đấu giành Tự do là con đường tất yếu. Các cuộc kháng chiến chính là để giành lấy Tự do và chính vây, sự mãnh liệt của khát vọng tìm kiếm tự do là một trong những tiêu chuẩn đánh giá sức sống của một nhóm người hay của một dân tộc, đánh giá họ có còn xứng đáng là một con người hay  một dân tộc lành mạnh nữa hay không.
   Trong thế giới biến động của nhân loại từ trước đến nay, lịch sử đã chứng tỏ rằng ở đâu có Tự do, ở đó khát vọng Tự do của con người được đáp ứng và chính trạng thái hội nhập hài hoà thiết yếu đó đã tạo nên trạng thái phát triển rực rỡ bền vững mọi mặt của xã hội nơi đó.
  Đã có nhiều Nhà nước ý thức được Tự do không chỉ như là mơ ước, là khát vọng thuần tuý trong văn học, trong đời sống thuần tuý tinh thần của con người, mà Tự do với tư cách như là một đối tương nhận thức phải được triết học hoá, cụ thể hoá thành những nguyên tắc cấu tạo ra xã hội, cấu tạo ra Nhà nước. Ở những Nhà nước tién bộ và phát triển cao, người ta đã phần nào nhận ra một chân lí không thể chối cãi được, một nhận thức hiển nhiên: Tự do là quyền tự nhiên của con người, là ngoại diên và nội diên vốn có của con người. Con người sinh ra là đã phải có Tự do, Tự do là tài sản thuộc tính người, là vốn sở hữu chân chính có tính nhân quyền của mỗi một người. Nhân thức đó là mấu chốt nền tảng cho hàng loạt tư tưởng, quan điểm về chủ nghĩa nhân ái, về hệ thống chính trị đề cao nhân quyền và lấy dân chủ làm tiền đề cho mọi hoạt động Nhà nước cũng như của Xã hội. Dựa trên tinh thần tuyệt đối của Tự do con người, người ta xem Tự do là chất xúc tác cơ bản của mọi hoạt động sống lành mạnh có trí tuệ, là động lực tạo nên mọi sự tiến bộ tinh thần cũng như vật chất của cộng đồng người.
 Trong các nước độc tài kiểu Xtalinnis, một mặt người ta ngang nhiên chiếm đoạt Tự do của con người một mặt người ta tiến hành bưng bít nhận thức khao khát Tự do hoặc ở đó Tự do được tuyên truyền như một cái gì ở bên ngoài cuộc sống, bên trên cuộc sống. Ở đó, người ta gán cho Tự do là cái cho phép hay là cái được ban phát từ trên xuống. Họ cố gắng làm cho con người không thể nhận thức được rằng: tự do không phải là một loại quà tặng của bất kì ai, của bất kì lực lượng quyền hành vật chất cũng như tinh thần nào. Nghĩa là không một loại Nhà nước nào có quyền lấy đi Tự do của một con người không vi phạm pháp luật, vi phạm qui tắc sống của xã hội quanh anh ta, và càng không được phép tán dương kể công về thành tích ban phát tự do của nó, không được tự nó cho mình có quyền ban phát tự do cho thần dân yếu đuối như một thứ ân huệ. Trong những đất nước như vậy là vi phạm quyền cơ bản nhất của con người, làm thui chột rất nhiều năng lực phát triển của mỗi cá nhân cũng như của dân tộc đó. Thậm chí với nhận thức tai hại như vậy sẽ góp phần đẩy lùi sự phát triển của đất nước, trầm trọng hơn là dân tộc bị đẩy vào chân tường trứoc bạo lực diệt chủng.
 Vậy tự do thể hiện cụ thể như thế nào ? căn cứ vào biểu hiện nào trong xã hội để xác tín con người ở đó có thoả mãn tự do mà họ khát vọng giữ được như một tài sản người hay không ? Nói một cách đơn giản tự do thể hiện qua các quyền cần phải được tôn trọng của con người cụ thể : Quyền được tự do cư trú, dịch chuyển, quyền đươc đối xử bình đẳng, bác ái, quyền học tập, quyền lao động, quyền đựoc yêu, dược ghét, quyền được lựa chọn khuynh hướng tư tưởng, khuynh hướng chính trị …các quyền đó của từng con người được đặt trong mối quan hệ tương tác với các cá nhân con người khác trong cộng đồng mà anh ta tự nguyện là thành viên tích cực của nó. Đó chính là nhân quyền, là quyền của con người như trong các văn bản của tổ chức Liên hiệp quốc định nghĩa và yêu cầu các nhà nước, các chính thể cần phải đảm bảo. Cần phải làm sáng tỏ sự khác biệt giữa Nhân quyềnDân quyền hay quyền công dân ví dụ như quyền được bầu cử hay ứng cử… tức quyền này gắn liền với trách nhiệm của quốc gia mà anh ta là công dân của nó. Dân quyền có sau và cũng chỉ là một khía cạnh có tính điều kiện của Nhân quyền, tức nó được định nghĩa dựa vào trạng thái phát triển chính trị của các quốc gia. Do đó Dân quyền là sản phẩm mang chất lượng quốc gia còn Nhân quyền là thưộc tính tự nhiên mang tính người tất yếu. Hiện nay ở nhiều quốc gia người ta vô ý hay thậm chí cố ý lẫn lộn giữa Nhân quyền và Dân quyền, thay thế Nhân quyền bằng Dân quyền, tức là biến một quyền hiển nhiên của con người thành quyền cho con người. Với sự nhập nhằng đánh lận con đen đó họ ngang nhiên phản bác sự lên án của thế giới về sự vi phạm nhân quyền, phi dân chủ của họ.
Trong khi chủ nhà dừng lại uống nước, ông Đông yêu cầu:
-         Ở đây xin Lưu tiên sinh làm rõ hơn cỏ sở triết học, khi ông cũng cho rằng ở nhiều quốc gia các nhà lãnh đạo thiếu hiểu biết về triết lí điều khiển sự vận hành của bộ máy nhà nước một cách đúng đắn và có hiệu quả đẩy mạnh quá trình phát triển toàn diện của đất nước họ. Vậy theo ông, vấn đề nằm ở chỗ nào ?
-         Vâng ! Tôi chỉ cần hai từ thôi là ông nhân thấy ngay : Dân chủ ! Chính họ không ý thức được Dân chủ hay có khi họ sợ sệt, trốn tránh Dân chủ mà dấu biệt nó đi, kiểu như bố mẹ giấu biến miếng chocolat không cho con cái được biết có trên đời này một loại thức ăn hấp dẫn đến như vây, và tất nhiên chúng không bao giờ đòi đựoc ăn nó cả, thứ mà chúng klhông được cung cấp khái niêm cũng như được thưởng thức qua. Các Quốc gia đó cần phải có một Nhà nước dân chủ để tuyên truyền cho mọi công dân của nó hiểu biết cách sống của con người như thế nào mà vẫn trọn vẹn hưởng thụ tự do trong một hệ thống Thể chế, Pháp luật, Nhà nước. Đảm bảo điều hành bộ máy Nhà nước một cách Dân chủ chính là đưa lại cho con người sống tích cực và hiệu quả trong không gian tự do bên trong cũng như bên ngoài của mình mà không vi phạm không gian của người khác hay rộng hơn là của cộng đồng, dân tộc. Vậy nhà Nước dân chủ là Nhà nước được xây dựng trên nguyên tắc nào ? Đó là Nguyên tắc góp vốn tự do để tạo nên Khế ước xã hội. Khác với tự do bên trong mang tính năng lực tinh thần của mỗi một người, không gian tự do bên ngoài phản ánh tự do của người dân đối với nhà cầm quyền, tự do của con người đối với nhau và tự do trong sự tương tác của các lực lựong hiện hữu trong xã hội mà anh ta đang sống trong đó. Trong mối quan hệ của không gian tự do bên ngoài được xem là phần góp vón chung mà con người thoả thuận và tự nguyện nhượng bớt dưới hình thức các Khế ước xã hội. Rất nhiều sách nghiên cứu triết học nổi tiếng đồng ý với nguyên lí căn bản này của J.J Rousseau đưa ra từ thế kỉ 18, ông đã đưa ra khái niệm “góp vốn Tự do”, tức là muốn có Tự do cho Xã hội thì mỗi người dân phải hi sinh một phần Tự do của mình để góp vốn cho Nhà nước. Như vây, thực chất của Khế ước xã hội là mỗi người đặt mình và quyền lợi của mình dưới quyền lợi chung nhưng ngược lại khế ước ấy phải đảm bảo được mong ước chính đáng của người góp vốn, tức nó phải đảm bảo hữu hiệu tối ưu nhất quyền lợi của mỗi cỗ đông thành viên như tự do, bình đẳng và bác ái, tư hữu. Mỗi người chỉ tự do khi anh ta tổ chức các hành vi sống phù hợp nguyên lí tự do bản thân mà không ảnh hưởng đến tự do của người khác.
Như đã trình bày ở trên, ta thấy tự do là của con người, lả tài sản cao quí của từng con người, chứ không phải được cấp phát từ túi của Nhà nước hay của Thể chế. Tuy nhiên, con người sống với nhau trong hoàn cảnh cụ thể, nên con người phải thoả thuận về những qui tắc sống chung do đó phải tự mình hi sinh một phàn tự do góp chung nhau để tạo nên nhà nước chung của họ. Nhưng ngược lại chỉ có Nhà nước được xây dựng theo cách thức Dân chủ mới có khả năng bảo vệ Quyền tự do của con người, chỉ có Luật pháp của Nhà nước dân chủ thực sự mới được xây dựng trên tinh thần tự do và nó mới là cơ chế hữu hiệu nhất để bảo vệ tự do, không những thế nó còn khống chế các khuynh hướng tiêu cực của tự do và chỉ có thể chế dân chủ với những cơ chế kiểm soát hợp lí của nó mới đảm bảo tự do được tồn tại trong tất cả các không gian của cuộc sống. Như vậy giữa Tự do và Dân chủ có mối quan hệ biện chứng mật thiết với nhau, Tự do là nội dung, Dân chủ là hình thức. Dân chủ là phương tiện duy nhất để biến Tự do thành hiện thực trong đời sống hàng ngày của con người, thông qua sự khẳng định các quyền của Tự do bằng Pháp luật. Tự do là các quyền của cá nhân mà Dân chủ chính là thể chế đảm bảo các quyền đó được tôn trọng một cách bình đẳng, đúng đắn và công bằng.
 Hơn thế nữa, Thể chế dân chủ là tiền đề để xây dựng Nhà nước pháp quyền, một cơ chế có khả năng ngăn chặn mội hành vi xâm phạm Tự do của con người. Nhà nước dân chủ là Nhà nước duy nhất có Pháp luật như là các Khế ước xã hội mà ở đó con người theo khả năng có quyền thảo luận một cách bình đẳng về các qui tắc điều phối cuộc sống của mình và của cộng đồng cũng như của Dân tộc. Trong Nhà nước dân chủ pháp quyền chỉ có Pháp luật là qui tắc tối cao chi phối toàn bộ đời sống xã hội, và toàn xã hội đều phải tôn thờ pháp luật, không có một tổ chức, đảng phái hoặc cá nhân nào đứng trên pháp luật, trước pháp luật ai ai cũng được đối xử bình đẳng, công bằng.
-         Nhưng … xin lỗi Lưu tiên sinh, ông nói về Nhà nước dân chủ như là một mô hình Nhà nước ưu việt đảm bảo cho con người tự do phát triển, phát huy cao nhất năng lực sáng tạo trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học kĩ thuật. Ngược lại chính sự phát triển thăng hoa của mỗi con người tác động làm cho nhà Nước ngày càng dân chủ hơn, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và năng lực hoạt động của bộ máy chính quyền dân chủ hoạt động ngày càng hiệu quả hơn. Hiện nay nền dân chủ phương Tây và ở nước Mĩ đã đạt đến mức độ nào trong tiến trình xây dựng một nhà nước như vậy, hay chính mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa thật sự của chủ nghĩa xã hội cũng là loại hình nhà nước dân chủ đó ?
-         Thế giới đã đi qua nhiều chặng đường phát triển để đạt đến một bức tranh có tính toàn ccầu hoá như chúng ta đang nhận thấy hàng ngày hàng giờ như ngày nay. Nhưng chính nhận thức có tính toàn thể như vậy cũng làm cho chúng ta đau đớn nhận ra rằng, những thành tựu của khoa học công nghệ, khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn vẫn chỉ dành cho gần một phần ba nhân loại. Phần lớn còn lại vẫn đang phải vật lộn với cuộc sống một cách vất vả chỉ để được tồn tại mà thôi. Đó là những con người thiếu tự do, không được tự do và có nhiều nơi họ còn bị cướp đoạt tự do một cách có hệ thống có tổ chức trên phạm vi một dân tộc bằng sự cầm quyền của một người hoặc một nhóm độc tài.
Nhìn bản chất sâu xa có thể nói rằng, lịch sử loài người chính là hành trình đến với tự do và trong đó các cuộc đấu tranh để giành tự do, giữ gìn tự do cũng như phổ biến tự do luôn luôn được diễn ra ở các cấp độ khác nhau. Với nhận thức như hai ông, tôi không cần phải phân tích con người không có tự do như thế nào trong các giai đoạn sơ khai chiếm hưu nô lệ, hay chỉ có được một thứ tự do han chế trong hình thái xã hội phong kiến ra sao nữa. Còn khi Chủ nghĩa tư bản  ra đời và phát triển con người tưởng chừng cùng với những thành quả phát triển kinh tế, khoa học kĩ thuật và nhiều nhận thức sâu sắc vai trò con người trong xã hội thì họ sẽ đạt được cuộc sống tự do.Nhưng tuy so với chế độ phong kiến chủ nghĩa tư bản đã đóng góp to lớn đưa xã hội loài người tiến lên về nhiều mặt, thì chủ nghĩa tư bản lại đưa đến nhiều tình trạng liên tục xảy ra hàng loạt các cuộc xung đột sắc tộc, các cuộc chiến tranh tranh chấp thuộc địa với sự bóc lột dã man, rồi các cuộc chiến tranh thế giới khốc liệt huỷ diệt hay vi phạm nghiêm trọng đến quyền tự do, quyền phát triển của con người. Về đối ngoại chủ nghĩa tư bản sơ khai biến chất thành chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân tiến hành đàn áp xã hội và con người ở những vùng lạc hậu. Còn trong lòng các nước tư bản, vì quá đề cao quyền lợi kinh tế tư nhân làm tiền đề cho các tập đoàn lợi ích ra đời mà kết quả là chúng lũng đoạn nhà nước biến nhà nước thành nơi thực hành những phương pháp bóc lột lợi nhuận một cách tinh vi, làm xã hội phân hoá giai cấp một cách rõ ràng nhất.
-         Và chính trong bối cảnh đó chủ nghĩa Mark ra đời như là một chủ nghĩa xã hội khoa học với học thuyết trung tâm là đấu tranh giai cấp xoá bỏ sự bóc lột tiến đến xây dựng một mô hình xã hội mới ưu việt hơn xã hội tư bản, trong đó tự do và dân chủ được đảm bảo cho con người ? - Ông Lương đưa ra một phản biện.
-         Đây là một câu hỏi mà lí luận cũng như thực tiễn đã giải đáp tuy chưa thật cặn kẽ nhưng về cơ bản là đã có nhiều sáng tỏ. Nếu có điều gì cần phân tích sâu sắc hơn, theo tôi nghĩ, phải nhường lời cho các nhà nghiên cứu chân chính đang sống và làm việc trong lòng trào lưu xã hội đó  mới phải, vì họ đã đang tùng ngày từng giờ cọ xát với những gì mà chế độ xã hội đó mang lại…
Ngừng lại một chốc, dường như ông Lưu muốn dành phần trả lời này cho ông Huy Đông vì nó có tính sử học nhiều hơn là triết học. Thấy rõ ý đồ của chủ nhà muốn kéo mình tích cực tham gia vào cuộc trao đổi học thuật đặc biệt này, ông Đông không thể né tránh được nữa khi cả hai người bạn đều hướng về mình chờ đợi:
-         Phải ! Giới trí thức nói chung và những người nghiên cứu lịch sử như chúng tôi nói riêng không phải là không trăn trở băn khoăn và thiếu hiểu biết đến mức ngây thơ ngộ nhận. Nhất là trong những năm qua với sự phát triển của các phương tiện thông tin phổ cập và hiện đại, rào cản cấm đoán  từ phía nhà nước chuyên chính đã được gỡ bỏ rất nhiều vì không thể có một con đường nào khác khi mà sự toàn cầu hoá đang như là một thách thức, một tiêu chuẩn đánh giá sức sống của một quốc gia, một dân tộc. Tuy nhiên việc lựa chọn hướng đi nào, giải pháp chiến lược nào  cho dân tộc hiện nay thì không phải là một công việc đơn giản của một vài người nào đó và chúng tôi cũng nhận rõ đó chính là bước đi sống còn có tính đột phá bước vào kỉ nguyên dân chủ: sự lựa chọn dân chủ đồng thuận của toàn thể xã hôi, người dân lựa chon tương lai cho chính mình, cho dân tộc mình, cho đất nước mình mà không phạm sai lầm một lần nữa vì chúng tôi đã có bài học trả giá cho nhầm lẫn đã qua của mình bằng cả một đời người rồi.
Như Lưu tiên sinh đây đã nói, thực tế lịch sử cho thấy đến giai đoạn của chủ nghĩa tư bản con người lại đối mặt với một giới hạn nữa của sự thiếu tự do. Trong xã hội tư bản con người đã phần nào được hưởng tự do, nhưng đó là cái tự do chênh vênh, mạo hiểm vì họ phải vận dụng hết khả năng kiếm tìm vật chất dồi dào, vất vả khẳng định đẳng cấp cao về kinh tế thì mới có tự do. Tuy con người được đẩy vào trạng thái có tự do vô cùng về kinh doanh nhưng cũng chính cái tự do to lớn đó cũng là cái” Lỗ đen” uy lực cầm tù họ trong đó khi họ thất bại trong cuộc cạnh tranh kinh tế thị trường khốc liệt đó. Trạng thái cuộc sống của con người trong vùng kế cận “Chân trời sự kiện” của “Lỗ đen” làm cho họ dần dần hao tổn sinh lực, rã rời và mệt mỏi trong hành trinh đi đến tự do. Mô hình nước Mĩ, vùng đất hứa của tự do, mà như một tuyên ngôn bằng vật thể cụ thể đó tựong Thần tự do với ngọn đuốc giơ cao trong tay ở New York, các nhà sáng lập Hợp chủng quốc Hoa kì kì vọng họ sẽ cùng toàn dân có nguồn gốc đa dân tộc bứt phá sang một chủ nghĩa tư bản kiểu mới, đưa lại cho con người thật sự có tự do bằng những thể chế dân chủ hơn ỏ châu Âu già cỗi. Đó là một hướng đi tìm tòi của một bộ phân con người trong xã hội tư bản vào thời kì khủng hoảng của nhà nước dân chủ tư bản kiểu cũ, nhưng cũng vì quá thần thánh vai trò kinh tế thị trường nước Mĩ cũng như vai trò sen đầm quốc tế nên nền dân chủ của nó cũng không là mẫu mực trong mắt các dân tộc đang phát triển. Trong khi đó ở đại bộ phận các nước thuộc địa mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc khiến con người mong mỏi tìm ra một hình thái xã hội mới có khả năng giải quyết tốt những bế tắc trong cuộc sống và đem lại tự do hạnh phúc thực sự cho con người. Trước yêu cầu lịch sử ấy con người nhận thấy điều kiện tiên quyết cho đấu tranh tự do thành công là phải giành được độc lập, dân tộc phải được giải phóng ra khỏi ách đô hộ bóc lột của chủ nghĩa tư bản sơ khai và sự nô dịch của chủ nghĩa thực dân. Và những tư tưởng của phong trào phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc đã thổi phồng khắp thế giới như một luồng gió mới đầy sức sống, một tinh thần tự do mới, một phương thức đi tìm kiếm tự do mới đầy hy vọng cho tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Từ những nguyên vọng cách mạng đơn lẽ, phong trào đấu tranh giải phóng đân tộc lớn mạnh nhanh chóng để khẳng định như là một còn đường, một qui luật xã hội tất yếu, đến nỗi có một số dân tộc chưa kịp tiến hành tranh đấu cũng đã được trả lại độc lập.
 Kết quả của phong trào giải phóng dân tộc là sự độc lập của các dân tộc và mỗi dân tộc đã có quyền có tiếng nói riêng của mình, có người đại diện của mình. Chúng ta đều biết,  giải phóng dân tộc là đi tìm tự do cho dân tộc, đó là tiền đề quan trọng để con người giành lấy quyền tự do. Chính trong giai đoạn này, cách mạng giải phóng dân tộc đồng hành cùng cách mạng vô sản để cùng tìm đến một tiền đề quan trọng, một mục đích có tính chiến lược trên hành trình đi đến mục đích cuối cùng của mình và đó: một mảnh đất được giải phóng đựoc làm sạch, mảnh đất tự do để canh tác hạt giống tự do dân chủ cho tất cả mọi người hay chỉ để trồng một thứ cây thử nghiệm theo ý muốn của một nhóm người ? Lịch sử lại bắt con người dân của một số dân tộc bị thua ngay trong việc chon giống và gieo hạt này, cái mà họ nhận được hoá ra không như họ mong ước trong khi tiến hành đổ xương máu trong phong trào xã hội dân chủ mà lại nhận đước các nhà nước chuyên chính, hạn chế tự do của họ ở mức độ cao hơn, có lí luận biện hộ đẹp đẽ hơn mị dân hơn. Một lần nữa thực tiễn chứng minh không phải cứ nắm bắt được điều kiện tiền đề thì chắc chắn có ngay lời giải đúng.
  Đấy là lí luận, nhưng hoàn cảnh cụ thể lại là…
-         Xin lỗi ông vì tôi cắt ngang lời mà ông sẽ trình bày, vì chính tôi đã từng, và chưa biết chừng, đang là kẻ bị truy bức, bị đàn áp thậm chí nguy hiểm đến tính mạng , chính vì vậy việc một con người đang phải sống và làm việc trong lòng của một xã hội chuyên chính bất kể luật pháp như tôi trước đây  phải tự biết im lặng đúng lúc là một phản xạ tự vệ cần thiết.
Ông Lương, có lẽ do đã sống lưu vong một thời kì quá dài ở nước ngoài nên khó có sự thông cảm với cách tranh luận chợp chờn ấp úng và thận trọng như vậy, liền lên tiếng:
-         Tôi cho rằng, dường như sự sợ hãi của ông Lưu hiện nay là không cần thiết, vì ông thấy đấy chúng ta chỉ có 3 người đang ngồi chuyện trò với nhau trong đêm vắng ở giữa một thị trấn nông thôn của một đất nước tự do tư tưởng, chúng ta lại nói bằng tiếng Việt, thứ tiếng xa lạ đối dân sở tại, tại sao chúng ta vẫn phải tự trói mình lại trong nhận thức ? Phải chăng sự mất tự do tư tưởng trong thời kì sống trong đất nước chậm phát triển đã khiến con người trở nên không còn là mình nữa dù có được giải phóng ?
Mỉm cười một cách chua chát, ông chủ nhà thú nhận:
-         Chính ông đã nói lên một thực trạng : khi con người trong thời kì quá dài không có quyền thảo luận về các quyền của mình, con người bị kìm hãm bởi quyền lợi của nhà nước phi dân chủ thì thực ra đó là cuộc sống có chất lượng nô lệ. Trạng thái nô lệ mà tôi muốn nói ở đây là trạng thái nô lệ hiện đại, không phải nó biến một con người trở thành một kẻ nô lệ như trong thời sơ khai trước đây, mà là trạng thái xã hội biến mỗi hoạt động của con người trở thành một hoạt động có chất lượng nô lệ, điều đáng đau lòng hơn khi hiện tượng đó lấn sâu vào lĩnh vực hoạt động nhận thức, hoạt động sáng tạo văn hoá và tư tưởng, mà sản phẩm tất yếu sẽ là các nô văn, nô nhạc, nô báo …
-         Thôi được tôi sẽ tiếp tục khai thác dòng chảy tư tưởng mà ông muốn ngăn nó lại – ông Lương bướng bỉnh: - Trong thế giới hiện đại, các nước phi dân chủ vẫn đang tồn tại một cách phổ biến, ở đó các quyền con người không được tôn trọng, không được thảo luận và đảm bảo thực thi trên thực tế, Nhà nước đó là một nhân tố trói buộc tự do của con người. Tuy nhiên sự trói buộc tự do của con người còn được tạo ra bởi tư tưởng hay hệ thống các tư tưởng. Nói đến sự hạn chế tự do bằng tư tưởng chính là nói đến sự lộng hành của các khuynh hướng chính trị hay các hệ tư tưởng trong đời sống xã hội. Ta đã biết rằng, tư tưởng là công cụ của nhận thức, hệ tư tưởng là hệ thống các công cụ nhận thức. Đời sống tư tưởng là một trong những mảng quan trọng nhất cấu thành đời sống con người, nó là điểm khác biệt nhất giữa một con người và một cái gì đó không phải người.Vì vậy tư tưởng không phải ai cũng giống ai, cũng có người dùng công cụ nhạn thức này là đúng là hợp qui luật, nhưng cũng có người lại dùng công cụ nhận thức trái với qui luật, trái với chân lí dẫn đến sự lệch lạc của cả một hệ thống tư tưởng. Tư tưởng cũng có sự sống, có những tư tưởng chưa kịp phổ biến thì đã chết ngay, có những tư tưởng tuy đúng cho thời kì này nhưng lại không đúng nữa ở thời kì khác và ngược lại, có những tư tưởng hay hệ tư tưởng làm phát triển xã hội nhưng có những hệ tư tưởng kìm hãm thậm chí phá hoại xã hội khi nó được đưa vào trong chính trị, trong chính sách của nhà nước phi dân chủ ( trong nhà nước dân chủ, chính sự tự do tư tưởng, tư do khuynh hướng chính trị và sự đa dạng tư tưởng cho phép con người có năng lực đấu tranh để tránh những rủi ro có tính hệ thống như vậy).
Cách trình bày như trên chỉ nhằm cho thấy hệ tư tưởng dù có đúng đắn đến đâu đi chăng nữa, thì cũng không phải là cái đích cần phải đạt đến càng không phải là mục tiêu của các dân tộc mà là nhận thức, là công cụ  để đạt đến hạnh phúc, đến tự do, dân chủ cho con người, đến sự giàu mạnh cho dân tộc, quốc gia. Có nhiều quốc gia người ta đã và đang vô tình hay cố ý nhầm lẫn giữa phương tiện và mục đích, người ta áp đặt hệ tư tưởng nào đó lên trên nhận thức của con người, người ta hiến pháp hoá vai trò độc tài của một hệ tư tưởng và bằng cách đối lập có tính tiêu diệt của một hệ tư tưởng phiến diện quá đát lên các hệ tư tưởng khác bất chấp qui luật phát triển… và cuối cùng đối với từng con người, họ tiêu diệt khả năng nhận thức của nó, làm thui chọt trí tuệ, lấp bỏ các rãnh, xoá bỏ chức năng các vùng nhân thức trên võ bán cầu đại não của con người, mù tịt nhận thức khiến cả dân tộc ngoan ngoãn, xếp hàng mò mẫm đi theo sự dẫn đường của chỉ của một tổ chức độc tài nào đó.
 Như vậy tư do tư tưởng là một bộ phận của dân chủ, nếu không có tự do tư tưởng thì không có dân chủ và nhân dân hoặc là bị cưỡng bức hoặc là bị lừa bịp. Một tư tưởng nào đó của một học thuyết nào đó tuyệt đối không phải là những thành luỹ tinh thần bất khả xâm phạm, không phải là những tín điều để không ai dám nghĩ đến vứt nó vào sọt rác lịch sử khi nó trở nên lạc hậu và càng không ai được nhân danh một tổ chức chính trị nào đó để biến tư tưởng đó thành luật pháp. Nếu xã hội có một tầng lớp nào đó, nhóm người nào đó tự cho mình cái quyền hoạch định cấu trúc tinh thần, đạo đức, văn hoá, tư tưởng của cả xã hội thì đấy là biểu hiện công khai trên qui mô lớn của một xã hội thiếu dân chủ. Nhà nước nào công khai dung tứng bảo vệ, thậm chí biến mình thành công cụ áp đặt tư tưởng, áp đặt tính độc quyền của một khuynh hướng chính trị, đầu độc sâu sắc sự đơn điệu nhất nguyên trong quá trình nhân thức thế giới ngay từ bài học đầu tiên của hệ thống giáo dục, nhà nước đó là nhà nước độc tài phi dân chủ.
 Đó chính là câu trả lời cho việc xác tín nhà nước chỉ của một tổ chức nào đó dưng nên dù có vá víu sửa đổi cho mới hơn đi chăng nữa thì cũng không phải là nhà nước dân chủ thực sự được.
-         Nhưng các nhà nước mà ông cho rằng nó là phi dân chủ ở một số nước đâu có cứng nhắc không biến đổi cho phù hợp với thực tiễn phát triển của xã hội loài người, càng ngày người ta đang cố gắng dân chủ hoá bằng hằng loạt chỉnh đốn, cải cách để cho hệ thống chính trị cũng càng ngày càng gần dân hơn đó sao. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa với nguyên tắc dân chủ tập trung không phải là không hay hơn cho nhân dân các nước chưa có trình đọ dân trí cao, khi người ta chưa biết sử dụng Dân chủ  như thế nào, thì việc đưa vào tay họ công cụ sắc bén, phức tạp mà không có hướng dẫn định hướng, thì có phải là có mạo hiểm không ? liệu có làm mất ổn định triền miên không ? Thái lan là đất nước luôn luôn bất ổn định về chính trị ngay sát chúng ta chẳng phải là một bài học cho chúng ta hay sao ?
Ông Đông tìm một hướng đi trung hoà bằng một thực tiễn rất rõ ràng như vậy, khiến ông Lưu lại phải lên tiếng thay ông Lương:
-         Ở đây chúng ta cần tách ra hai vấn đề : Thứ nhất là trong lịch sử đã có nhiều vị lãnh tụ tìm cách trộn lẫn cách mạng xã hội chủ nghĩa với cách mạng dân chủ xã hội tạo nên mô hình nhà nước hàm chứa được mục đích của cả hai theo kiểu cộng hợp. Trong hướng tìm tòi này, theo tôi, chủ tịch Hồ Chí Minh là một con người mạnh bạo nhất, tâm nguyện nhất và cũng là người chịu nhiều thiêt thòi nhất. Trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã thốt lên câu nói đầy sung sướng hy vọng về tương lai độc lập tự do hạnh phúc cho dân tộc mình khi người bắt gặp được chủ nghĩa Mark – Lenin ở nước Nga, chứng tỏ ngay lúc đó Người đã nhìn thấy con đường cách mạng vô sản với vai trò là một con đường, một phương tiện hưu hiệu để đi đến độc lập tự do cho dân tộc chứ chưa hoàn toàn phải là mục đích của cách mạng giải phóng dân tộc. Có nhiều bằng chứng cho thấy sau khi đã trở thành vị chủ tịch đầu tiên của Nhà nước dân chủ cộng hoà cụ Hồ Chí Minh đã tìm cách điều chỉnh lại đường lối chính trị của nhà nước cộng hoà dân chủ đó theo hướng dân chủ kiểu hợp chủng quốc Hoa kì, không phải vì hay mà trong bài tuyên ngôn độc lập của  Việt nam lai được mở đầu bằng câu trích dẫn một câu trong bản tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ, không đơn thuần chỉ vì chiến thuật tập hợp lực lượng tranh đấu mà Đảng cộng sản  của Việt nam lại được đổi tên thành Đảng lao động Việt nam khi Hồ Chí Minh là Chủ tịch Đảng. Đó là sự cố gắng bền bỉ của một Con người yêu nước, thương dân vĩ đại, một nhà cách mạng dân tộc dân chủ, một con người yêu tự do và tìm kiếm tự do cho người Việt nam nói riêng và cho Con người nói chung một cách không mệt mỏi. Nhưng vì sao không thành công thì vấn đề lại nằm trong nền tảng lí luận, nằm trong bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, vì nếu thực sự trở thành một nhà nước của toàn dân, một nhà nước dân chủ, một nhà nước của tự do mọi mặt nó phải từ bỏ các nguyên lí của học thuyết nền tảng của nó : nguyên lí đấu tranh giai cấp, nguyên lí chuyên chính, nguyên lí chính trị là thống soái, nguyên lí nhất nguyên về tư tưởng chính trị. Điều đó không bao giờ xảy ra được nếu những người cộng sản không tự nguyện rời bỏ nó, thực tiễn sụp đổ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa vừa qua là một minh chứng hùng hồn nhất cho việc chuyển đổi thành nhà nước dân chủ của các nhà nước xã hội chủ nghĩa phải thực sự chuyển đổi bản chất như thế nào. Vân mệnh của đất nước nằm cả trong tay họ, chỉ họ mới là người tự mình cải biến mình, tuy rằng rất đau đớn, để đứng về phía dân tộc dân chủ thật sự thì sự kết hợp giữa cách mạng xã hội chủ nghĩa  và cách mạng dân chủ mới đưa lại giá trị cao quí nhất cho con người. Khi đó có thể cương lĩnh của nó sẽ cao hơn về chất so với cương lĩnh của các nhà xã hội dân chủ tư bản, ta gọi nó la chủ nghĩa xã hội dân chủ kiểu mới.
   Thứ hai là, khi cho rằng trình độ dân trí thấp nên nhà nước trao quyền dân chủ cho nhân dân theo nguyen lí phân phối có hạn định, theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Cách lí luận như vậy là nguỵ biện.
Như chúng ta đã phân tích vừa qua, khi Nhà nước là của dân lập nên và vì dân mà nó hoạt động thì dân chủ là bản chất, là đặc điểm cần phải có cơ bản nhất chi phối sự ra đời, nguyên lí hoạt động và sự sống còn hay không của Nhà nước đó. Trong xã hội có nhà nước thì dân chủ là con đường để con người được sử dụng quyền tự do của mình có hiệu quả trong mối tương tác với nhà nước và với nhau theo tinh thần của pháp luật mà họ chung tay xây dựng nên bằng chung vốn không gian tự do bên ngoài của mỗi cá nhân. Như vây dân chủ đâu phải của ai mà họ có quyền phân phối, không thể lấy lí do là trình độ dân trí xã hội còn thấp mà trì hoãn thực hiện đúng bản chất của Nhà nước, trì hoản điều chỉnh để xây dựng Nhà nước dân chủ được.
Mặt khác người ta đã cố tình lẫn lộn giữa nguyên lí hoạt đôngnguyên tắc tổ chức khi nói về tập trung dân chủ. Bằng tự do ứng cử và bầu cử, công dân của nhà nước dân chủ trực tiếp hay gián tiếp bầu các cơ quan hay cá nhân thay mặt mặt họ điều hành Nhà nước, đại diện cho họ trong các hoạt động đối nội cũng như đối ngoại. Cách thức hoạt động tập trung dần theo hệ thống hình chóp đó của một xã hội dân chủ là nguyên lí để con người thực hiện quyền dân chủ của mình có hiệu quả theo lối phân công công việc, những người đại diện cho dân dù ở mức độ cao thấp như thế nào cũng đều là người được trả lương từ thuế đóng góp của dân, là một người hành nghề mà thôi. Khi cho nguyên lí tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức, tức là người ta lật ngược hình chóp mô tả hệ thống thực thi dân chủ, ngưới ở cấp càng cao thì càng có nhiều quyền dân chủ tự do hơn, người dân không bao giờ có thể tham gia vào các hoạt động điều hành Nhà nước được nữa khi mọi quyền của họ bị chết dần từ mạng lưới các cấp chính quyền, các cơ quan chuyên môn cấp thấp, vì vậy sự lộng hành của các cấp cao là tất yếu trong hệ thống tổ chức nhà nước này, tạo nên một xã hội phi dân chủ độc tài toàn trị.
 Sự bất ổn chính trị ở Thái lan không phải là do dân chủ quá trớn hay do nhà nước không kiểm soát, kiềm chế được việc sử dụng dân chủ tự do của dân. Ngược lại nguyên nhân nằm tại sự yếu kém, sự tha hoá của những người lãnh đạo Nhà nước Thái dẫn đến sự bất mãn có tính phản kháng của người dân, họ bị phân hoá thành các nhóm đấu tranh với nhau khi nhà nước có sự phân chia quyền lực trong nội bộ của nó. Nhiều khi các nhà chính trị bị tước mất tự do dân chủ của họ ngay trong hoạt động điều hành có tính chuyên môn hoá của mình ở mức độ trầm trọng, do quyền lợi khinh tế hay quyền lực của các cá nhân hay nhóm lợi ích bị thiệt thòi trước nhóm lợi ích khác, họ tìm công cụ mạnh ở nhân dân để tranh quyền lẫn nhau và khi đó người dân bị phân hoá dễ bị lợi dung như một công cụ mù quáng trong tay họ.Chính trị bất ổn định ở Thái lan là hậu quả của quá trình như vậy.
 Cũng phải nhận thấy rằng, dù dược dân lập nên bằng con đường dân chủ nhưng không phải các nhà nước dân chủ thì luôn luôn, mãi mãi dân chủ. Nguyên lí góp vốn tự do cho thấy việc con người nhượng bớt tự do để tạo ra nhà nước, về bản chất là tạo ra ranh giới nhân tạo của tự do, để dung hoà tự do có tính bản năng của mỗi người. Nhà nước dân chủ sinh ra để phục vụ con người nhưng ở một khía cạnh nào đó nó cũng hạn chế tự do của con người thông qua việc điều chỉnh một phần tự do thành tự do của cộng đồng. Vì vậy, chính nhà nước cũng đóng vai trò là một ranh giới nhân tạo có tính tất yếu của tự do trong đời sống xã hội. Xã hội loài người ngày càng phát triển cao và công cụ luật pháp cũng không ngừng được điều chỉnh để phát triển khi các hoạt động sống của con người càng ngày càng phong phú, đa dạng hơn cả về chất cũng như về lượng. Trong bối cảnh đó tất cả các loại hình Nhà nước đều có thể bị phi dân chủ hoá trong quá trình vân hành của mình, nhưng chỉ có Nhà nước dân chủ thực sự, thấm nhuần bẳn chất dân chủ trong nhận thức của những người dân được bầu lên thành người lãnh đạo cũng như trong nhận thức của đại đa số người dân bị lãnh đạo còn lại, ở đó người ta mới khắc phục được trạng thái phi dân chủ của mình một cách thường xuyên một cách tự giác hay bị dân kiểm tra và yêu cầu phải điều chỉnh. Còn nhà nước phi dân chủ thì không làm được việc ấy và họ càng đào sâu mâu thuẫn giưa tự do của Nhà nước và tự do của xã hội thông qua mâu thuẫn giữa quyền lợi của nhà nước với quyền lợi của xã hội, họ càng khư khư bảo vệ quyền lợi của mình đến một lúc nào đó nhà nước thành cơ quan bảo vệ cho sự độc tài của một người hay mọt nhóm người nào đó. Đến lúc này để quay lại vai trò một nhà nước của dân và vì dân phải cần đến một cuộc cách mạng, không còn con đường nào khác.
Tiếng cúc cu của chiếc đồng hồ con gà, sản phẩm độc đáo của vùng Schwarz Wald phía nam nước Đức, mà có lẽ chủ nhà đã nhận được nó như một tặng phẩm kỉ niệm của một khách hàng thân thiết nào đó, làm những người đàn ông sực nhớ rằng mình đã có một cuộc trò chuyên khá dài. Một giờ sáng rồi. Ông Lương chủ động:
-         Chết thật, chúng ta say sưa quá mà không để ý rằng thời gian trôi quá nhanh. Ngày mai ông Lưu lại phải dậy sớm chuẩn bị cho một ngày làm việc mới, chúng tôi cũng phải đi một chặng đường xa nữa theo kế hoạch. Vây nên dù chúng ta vẫn còn nhiều vấn đề để trao đổi với nhau, nhất là tôi cũng rất muốn khai thác tri thức của hai ông, nhưng cuộc trao đổi hiếm có này cũng đành phải dừng lại ở đây.
-         Không phải lo cho tôi - chủ nhà tỏ ý luyến tiếc – ngày mai nhà hàng mở cũng muộn, vả lại còn một số điều tôi muốn trình bày nữa, sợ không còn một cơ hội như vậy nữa đâu.
Nhưng ông Đông đã nhất quyết đứng dậy nói:
-         Chúng ta phải dừng lai ở đây thôi, ông Lưu ạ ! Sẽ có một dịp nào đó chúng ta gặp nhau vì tôi cũng sẽ hay sang thăm ông bố vợ của tôi trong thời gian tới, dạo này sức khoẻ của ông ấy kém đi rất nhiều. Khi đó biết dâu ông sang Paris hay chúng ta cùng đến thăm gia đình ông Lương đây. “Hữu duyên thiên lí năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng “ mà, lo gì.
-         Thôi đành vậy, nhưng tôi cũng đang lo rằng thời gian dành cho tôi không còn nhiều nữa - với một vẻ mặt đượm buồn pha chút lo lắng bất an, ông chủ quán Thượng hải phân trần – Không biết tôi có được yên ổn làm ăn ở đây không hay là phải rời đi một chốn nào khác nữa, giờ đây gia đình vợ con đang là nỗi quan tâm lớn nhất của tôi, vì họ, tôi không được phép mạo hiểm, kinh nghiệm một lần mất mát làm cho tôi trở nên sợ hãi hơn.
Hai người khách cũng thấy thấm lây nỗi buồn của người ban mới quen, chia tay ông Lưu để trở về khách sạn cả hai đều theo đuổi một niềm suy tư riêng nên cả hai đều lặng lẽ. Ông Lương thương bạn, xót xa cho thân phận của chính mình. Thế giới này trở nên rộng rãi quá, lạnh lẽo quá để con người như ông Lưu phải cảm thấy bất lực, nhỏ nhoi và yếu đuối. Tư tưởng và Tri thức làm cho con người trở thành khổng lồ, nhưng cũng chính sự hiểu biết rộng rãi sâu sắc  cũng làm con người cảm thấy nhỏ bé hơn trước những sự thật phũ phàng, trước sự bạo tàn của con người đối với con người.
    Buổi sáng lành lạnh làm ông Lương không cưỡng lại được giấc ngủ muộn theo thói quen, tuy vậy ông vẫn biết được bạn mình dậy trước và hình như đứng trong hành lang của khách sạn trò chyện với ai đó khá lâu. Đoán rằng ông Đông tiếp chuyện với người cháu của mình trước khi đi tiếp lên Berlin nên ông không gắng dậy sợ cắt ngang công việc riêng tư của họ. Lúc nửa đêm, hai ông đã chủ động chào từ biệt ông Lưu rồi vì tránh cho ông chủ cửa hàng nhiều việc phải chuẩn bị cho một tuần kinh doanh mới, không phải bân tâm thêm thủ tục tiễn đưa sáng nay làm gì nữa. Vậy nên người trò chuyện với ông Đông chỉ có thể là Tuấn mà thôi, với cậu ta thì chính ông cũng không có thiện cảm vây nên tránh mặt không gặp cũng không làm ông áy náy, vậy là ông Lương lại trở mình quay mất vào tường và ngủ tiếp.
-         Dậy thôi, Lương ơi ! Ông Đông đánh thức bạn dậy khi đã gần 10 giờ và ông cũng đã chuẩn bị xong hành lí tư trang gon gàng - Dậy để ăn sáng và chuẩn bị trả phòng cho khách sạn, rồi con phải khởi hành đi tiếp chứ.
Vừa vươn vai làm vài động tác thể dục, ông bạn vừa thanh minh:
-         Xin lỗi cậu ! Thói quen ngủ muộn rồi dậy muộn của dân kinh doanh nhà hàng ở Đức này của mình trái với thói quen công chức của cậu chắc làm cậu chờ đợi lâu lắm phải không ?
-         Thì cũng khá lâu đấy. Cũng may là chỉ đi với cậu một vài ngày, chứ sống mãi với cậu chắc mình cũng phải chào thua luôn.
Biết lỗi của mình, ông bạn già nhanh chóng hoàn tất mọi thủ tục cá nhân nhanh hơn ngày thường mà không dám bát chuyện tiếp với ông Đông khi đó đang đứng trầm ngâm bên cử sổ, lơ đễnh nhìn dòng xe cộ tấp nập bên ngoài.
 Khi đã ngồi yên vị trong xe otô, chuẩn bị khởi động máy, ông Lương ngạc nhiên khi nghe bạn mình bảo:
-         Cậu đặt máy dẫn đường về nhà cậu đi !
-         Hả ?
-         Mình đã đổi ý, chúng mình không đi Berlin nữa !
-         Sao vậy?
-         Thời gian không còn nhiều, mình sợ đến Berlin chỉ một vài ngày thì không đủ cho việc lùng sục trong các kho lưu trữ hay Thư viện và chỉ tốn công vô ích cho hành trình chạy xe quá xa của cậu. Tốt nhất là chúng mình quay về nhà cậu, mình sẽ ở lại đó 2 ngày rồi sau đó mình sẽ đi tàu hoả quay về Paris để chuẩn bị cùng gia đình mình bay về Việt nam. Còn viịec đi truy tìm tài liệu Lịch sử thì mình sẽ liên lạc với một ai đó trong những người Việt đang học tập hay đang định cư ở Berlin giúp, như vậy họ sẽ làm hiệu quả hơn.
Ông Lương vui mừng vỗ tay:
-         Hoan hô sự sáng suốt của Giáo sư, vậy là tối nay gia đình mình được vinh dự đón cậu rồi. Thật còn gì bằng nữa ! OK, let go !
Tối hôm đó, tại nhà bạn mình ở Rasheim, ông Đông gọi điện báo cho ông Kim về sự thay đổi hành trình của mình và nhờ ba vợ liên lạc với cậu Tiến sĩ Vật lí Nguyễn  Đức Tân hẹn gặp nhau ở Việt nam để tiếp tục lần theo dấu vết tấm “ Mật đồ Cao biền”. Ông Kim không dấu được sự vui mừng của mình trong giọng nói qua điện thoại:
-         Ba đã biết rằng con sẽ đồng ý nên đã cùng Tân chuẩn bị tất cả mọi thứ cần thiết cho chuyến đi lên Viêt bắc của cả hai chú cháu rồi, hơn thế nữa cậu ta sẽ là người đồng hành với gia đình con trong chuyến bay của con về Việt nam theo hãng Airfrance vào tuần đến.
Chẵng biết nói thế nào nữa trước sự láu lĩnh của Ba vợ mình và trước sự đã rồi ông Đông đành nói:
-         Thế thì tốt quá rồi ! Con cũng sẵn sàng để vào cuộc, cám ơn Ba !
Tuy vậy, ông Đông cũng vui mừng vì mình chưa đánh mất lòng tin ở người cha đáng kính của ông sau những sao nhãng trách nhiệm vừa qua.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét